1. Khái quát chung

Quyền bào chữa là một chuẩn mực bắt buộc (jus cogens)trong quyền được xét xử công bằngTập hợp các quyền để có được chuẩn mực xét xử công bằng (thường được nhắc đến như những quyền căn bản hay sự bảo đảm tối thiểu về xét xử theo đúng pháp luật tố tụng) được nêu trong các quy định của Điều 14 Công ước quốc tế về Quyền chính trị và Dân sự (ICCPR). Những quyền cá nhân này, bao gồm cả quyền bào chữa, bản thân không phải là các chuẩn mực jus cogen vì chúng có thể được giải thích theo ngữ cảnh hoặc thậm chí bị làm giảm chuẩn nhằm đạt được mục tiêu xét xử công bằng. Tuy nhiên, với mục đích của Nghiên cứu này, điều này đủ để thấy rằng thực trạng tập quán pháp quốc tế về quyền bào chữa và để xem xét quyền này cùng với các quyền con người và thực tiễn tư pháp hình sự quốc tế đã và đang tập trung vào vấn đề phủ nhận việc tiếp cận về tính hiệu quả của quyền bào chữa là thành phần của quyền được xét xử công bằng.

2. Công ước Quốc tế về Các Quyền Chính trị và Dân sự (ICCPR) 

Điều 14(3) của ICCPR quy định rằng khi phán quyết của toà án về một trách nhiệm hình sự, thì mọi người đều có quyền tối thiểu là:
(b) Có đủ thời gian và phương tiện chuẩn bị cho việc bào chữa của mình và tiếp xúc với người bào chữa do mình lựa chọn;
(d) … tự bào chữa… thông qua biện pháp trợ giúp pháp lý (“TGPL”) mà người đó lựa chọn; được thông báo về quyền này nếu người đó chưa có TGPL; và được chỉ định nhận TGPL trong mọi tình huống mà những lợi ích của công lý đòi hỏi, mà không phải trả tiền trong cho dù anh ta không có đủ tiền để trả ...
Điều 14 của ICCPR đưa ra nội dung của mọi khía cạnh quan trọng của quy chuẩn của quyền được xét xử công bằng. Ủy ban Nhân quyền của Liên Hiệp quốc có lý do để xem xét những vi phạm về những quy định này trong nội dung của phần Nhận Định chung và khiếu kiện cá nhân. Do sự chồng chéo của Điều 14(3)(b) và 14(3)(d), chúng ta thường thấy sự vi phạm đồng thời hai quy định này. Những ví dụ về sự vi phạm quyền của luật sư do Ủy ban Nhân quyền nêu ra bao gồm cả những trường hợp một người bị giam giữ mà không có khả năng tiếp xúc với luật sư, xét xử bởi các toà án đặc biệt, và việc chỉ định người bào chữa của cơ quan nhà nước không đúng với mong muốn của bị can, bị cáo.

3. Quyền có đủ thời gian để chuẩn bị cho phiên toà, bao gồm cả việc tiếp xúc người bào chữa

Trong phần Nhận Định chung Ủy ban Nhân quyền lưu ý rằng “việc có hoặc không có TGPL thường xác định liệu một người có khả năng tiếp cận các thủ tục tố tụng liên quan hoặc tham gia vào các thủ tục tố tụng đó một cách có ý nghĩa hay không29. Quy định “đủ thời gian” trong Điều14(3)(b) được hiểu như thế nào sẽ phụ thuộc vào tình huống của từng vụ án cụ thể và người bào chữa nên tiếp cận đủ với bị can, bị cáo và có khả năng đưa ra yêu cầu hợp lý cho một toà án hay phiên toà nhằm hoãn xét xử.

4. Quyền được thông tin bí mật với người bào chữa

Một khía cạnh khác của Điều 14(3)(b) là thông tin bí mật giữa người bào chữa và khách hàng của họ. Ủy ban Nhân quyền đã tuyên bố rằng việc trao đổi đó nên được diễn ra "trong điều kiện hoàn toàn tôn trọng tính bí mật trong việc trao đổi của họ".
Những vấn đề cần được quan tâm đặt ra khi bị can, bị cáo không được có người bào chữa hoặc bị can, bị cáo không có khả năng bào chữa và hoặc không được chỉ định người bào chữa hoặc người bào chữa được chỉ định là không đáp ứng hoặc không thích hợp, hoặc việc trao đổi riêng tư với người bào chữa bị từ chối. Những vấn đề này được phản ánh trong các ví dụ sau đây của Ủy ban Nhân quyền:
Không có quyền tuyệt đối để chọn lựa người bào chữa.
Quyết định của Ủy ban Nhân quyền xác nhận rằng trong khi bị can, bị cáo nên có quyền tiếp xúc với người bào chữa hợp pháp liên quan đến tố tụng hình sự (quyền này không dành cho tố tụng dân sự), điều đó không mang lại quyền lựa chọn người bào chữa theo ý mình khi người bào chữa đó đang hoạt động nhờ nguồn tài chính của TGPL. Trong trường hợp này, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và tính phức tạp của thủ tục tố tụng sẽ được xem xét (xem vụ án O.F. v Norway (158/83) và vụ án Lindon v Australia (646/95)) Người bào chữa phải được cung cấp thông qua TGPL trong tất cả các giai đoạn tố tụng trong trường hợp liên quan đến hình phạt tử hình
Hiệp định Châu Âu về Bảo vệ Quyền con người và Sự Tự do cơ bản của Con người
Điều 6.3 của Hiệp định Châu Âu về Bảo vệ Quyền con người và Sự Tự do cơ bản (ECHR) quy định rằng:
Bất kỳ ai khi bị cáo buộc phạm tội hình sự có các quyền tối thiểu sau:
(c) Tự bào chữa cho chính mình… thông qua sự TGPL do chính người đó lựa chọn hoặc nếu người đó không có đủ khả năng chi trả cho TGPL thì được nhận TGPL miễn phí khi cần thiết đạt được các mục tiêu công lý;
Mặc dù toà án khu vực về quyền con người, Toà án Châu Âu về Quyền Con người, thường đưa ra những quan điểm luật học có căn cứ xác đáng và có thể dựa vào đó để xem xét sự giải thích và sự ảnh hưởng của những điều khoản tương tự trong ICCPR và đôi khi lại phù hợp hơn với các quyền được xem xét trong ngành luật học nghiên cứu.
Từ điểm sơ khai  của nguyên tắc, Toà án Châu Âu về Quyền Con  người đã  chỉ ra rằng Hiệp định Châu Âu nhằm mục đích “đảm bảo những quyền không mang tính chất lý thuyết hoặc phi thực tế mà phải mang tính thực tiễn và có hiệu quả” và điều này đặc biệt đúng “trong cách nhìn nhận về vị trí nổi bật trong một xã hội dân chủ bằng quyền được xét xử công bằng”

5. Quyền bào chữa thông qua trợ giúp pháp lý

Như với các quyết định của Ủy ban Nhân quyền, Tòa án Châu Âu về Quyền Con người đã xử lý một trường hợp cơ quan nhà nước từ chối cho phép bị can, bị cáo tiếp cận với luật sư bào chữa và trường hợp không thể cung cấp luật sư bào chữa cho những bị can, bị cáo không có tiền. Như các quy định tương tự của ICCPR 36, khía cạnh sau của quyền này đòi hỏi phải có một cuộc kiểm tra cặp phạm trù của quyền được bào chữa theo Điều 6.3(c): (1) người bị buộc tội hình sự không có đủ khả năng vật chất, và (2) lợi ích của công lý đòi hỏi phải có sự tham gia của người bào chữa37. Về nguyên tắc, lợi ích của công lý đòi hỏi phải có đại diện pháp lý khi có “đe doạ tước đoạt quyền tự do”

6. Từ chối cung cấp người bào chữa trong thời gian ngắn

Mặc dù các vụ án đã được Ủy ban Nhân quyền xác định có xu hướng giải quyết việc từ chối được bào chữa chỉ có vài ngày. Trong hai vụ án từ Vương quốc Anh, Ủy ban Nhân quyền Châu Âu đã xác định việc từ chối có người bào chữa trong thời gian ngắn có thể coi như một hành vi vi phạm.

7. Quyền bào chữa trong giai đoạn tố tụng trước khi xét xử

Tòa án Châu Âu về Quyền Con người đã cho rằng trong khi quyền bào chữa phải được áp     dụng cho thủ tục tố tụng tại toà án và cũng được áp dụng cho giai đoạn trước khi xét xử một      vụ án. Thực chất, như tác giả Mowbray đã nêu, “những nguy cơ thiệt hại đối với việc bào chữa cho một nghi can ở giai đoạn trước khi xét xử càng lớn thì nghi can đó càng cần có sự giúp pháp lý miễn phí theo quy định này”

8. Toà án và Hội đồng Xét xử Hình sự Quốc tế

Các quyền của bị can, bị cáo quy định trong Điều 14(3) của ICCPR cũng được phản ánh trong khuôn khổ mang tính lập hiến của các toà án và hội đồng xét xử hình sự quốc tế.
Quyền được xét xử công bằng được các toà án quốc tế coi là những tiền đề cơ bản để tiến hành thủ tục tố tụng quốc tế. Trong nhiều khía cạnh sự thành công hay thất bại của những thủ tục tố tụng này được đánh giá dựa trên chuẩn mực xét xử công bằng.43 Những quy định liên quan đến quyền bào chữa trong những toà án này được phản ánh trong Điều 14(3)(b) và của ICCPR. Việc áp dụng quyền được tiến hành tố tụng đúng đắn như quyền bào chữa về nguyên tắc được giải thích phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ, Tòa án Hình sự Quốc tế đối với Những Nhà lãnh đạo Nam Tư cũ đã tuyên bố rằng cội nguồn các quyền con người đã ảnh hưởng nặng nề đến sự giải thích của Toà án về việc áp dụng quyền (thực tế, phần lớn các phán quyết liên quan tới các quyền đó luôn tham chiếu tới các quyết định của Ủy ban Nhân quyền hoặc Tòa án Châu Âu về Quyền Con người vì tính thuyết phục cao). Tuy nhiên, Tòa án Hình sự Quốc tế đối với Những Nhà lãnh đạo Nam Tư cũ lưu ý là luật hình sự quốc tế là một hệ thống luật đặc biệt trong đó các quyền con người có thể được diễn giải hoặc xây dựng theo cách phù hợp với những đặc thù của hệ thống đó
Mặc dù đã lưu ý rằng luật hình sự quốc tế là một hệ thống luật pháp đặc biệt, quyền của bị can, bị cáo được có người bào chữa và có người bào chữa cho những bị can, bị cáo không thể thu xếp được người bào chữa cho mình đã không được giải thích theo cách thức nhất quán với chế độ quyền con người. Thực chất, yếu tố lợi ích của công lí quy định trong Điều 14(3)(d) không bao giờ được đề cập trong hệ thống này bởi vì tính nghiêm trọng bất biến của các hành vi tội phạm quốc tế đang bị truy cứu (như tội diệt chủng, tội ác chống lại loài người và tội phạm chiến tranh).
Có nhiều cách thức để xem xét chuẩn mực của việc xét xử công bằng tại các toà án này có liên quan đến quyền bào chữa đang nghiên cứu trong Báo cáo này. Trước hết, những tòa án này áp dụng quyền được xét xử công bằng trên bình diện quốc tế. Khi áp dụng, các tòa án này phải giải thích tình trạng pháp lý của luật nội dung và tố tụng, bao gồm cả quyền bào chữa và các quyền liên quan. Đôi lúc, các tòa án nhận định các quyền này theo tập quán pháp và họ rút ra từ thực tiễn tại hệ thống pháp luật xét xử của các quốc gia để bổ sung cho những thiếu hụt, và có thể thừa nhận rằng thực tiễn này phù hợp với đặc điểm của các nguyên tắc pháp luật quốc tế.
Các văn kiện của các hội đồng xét xử hình sự quốc tế nêu chi tiết về quyền bào chữa để làm rõ thêm các quyền con người, việc giải thích các quyền này và bảo đảm hơn nữa cho các quyền này.
(sưu tầm)