1. Nhật Bản

1.1 Các nguồn luật tố tụng và hình sự Nhật Bản

Hiến pháp Nhật Bản là đạo luật tối cao của quốc gia này, được ưu tiên áp dụng so với tất cả các luật và bộ luật khác của chính phủ.Hiến pháp thời hậu chiến, có hiệu lực từ năm 1947, được phát triển chủ yếu từ các hệ tư tưởng Anglo-America và có hẳn một chương về việc đảm bảo các quyền cơ bản của con người.Bộ luật Tố tụng Hình sự Nhật Bản quy định các vấn đề về tố tụng hình sự tại Nhật Bản bao gồm những điều khoản cụ thể liên quan tới các quyền khác nhau trao cho người bị tình nghi và bị cáo.

1.2 Luật nội dung và áp dụng

Điều 11 của Hiến pháp giải thích mục đích của chương này; quy định không được phép ngăn cản người Nhật Bản hưởng bất kì quyền cơ bản nào của con người. Hơn nữa, những quyền này được đảm bảo, được hưởng vĩnh viễn và bất khả xâm phạm. Chương này của Hiến pháp cũng khái quát và xác định quyền bào chữa theo pháp luật Nhật Bản.
Điều 34 quy định không ai bị bắt hay giam giữ mà không có ngay đặc quyền được bào chữa. Ngoài ra, Điều 37(3) cũng quy định rằng “vào mọi thời điểm bị can, bị cáo phải được luật sư bào chữa có đủ năng lực trợ giúp - người có thể được nhà nước chỉ định sử dụng nếu bị cáo không thể tự bào chữa,” Mặc dù quy định có tính hiến định này dường như tôn trọng các quyền đối với người bị tình nghi của pháp luật Hoa Kỳ theo phán quyết Miranda, nhưng trên thực tế quyền này được giải thích hẹp hơn do việc chuyển ngữ (dịch thuật) không được chắc chắn. Bản tiếng Anh của Hiến pháp Nhật Bản được giới khoa học pháp lý coi là bán chính thức và chỉ có bản tiếng Nhật mới được coi là văn bản chính thống. Việc sử dụng từ “accused” (bị cáo) trong bản tiếng Anh thực ra để chỉ quyền có luật sư bào chữa do nhà nước chỉ định nhưng không áp dụng đối với người bị tình nghi, người chưa phải là “accused” (bị cáo) thông qua thủ tục truy tố. Điều này được khẳng định và xác nhận rõ ràng hơn trong phiên bản tiếng Nhật của văn bản khi từ keiji hikokunin (bị cáo hình sự) được sử dụng trong Điều 37. Hiểu theo đúng nghĩa của từ này thì sẽ không có quyền bào chữa được nhà nước chỉ định trước khi có bản cáo trạng.
Cách giải thích quy định của Hiến pháp này được ủng hộ bởi các quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự Nhật Bản. Điều 30 tách bạch rõ ràng giữa bị cáo và người bị tình nghi, quy định cả hai đều có thể chỉ định luật sư bào chữa vào bất kì lúc nào, với chi phí do họ tự bỏ ra.
Những quyền được đưa ra theo Bộ luật Tố tụng Hình sự gây ra lo ngại đặc biệt trong quá trình thẩm vấn. Người bị tình nghi có thể bị giam giữ tới 23 ngày trong các trại tạm giam, việc thú tội trong thời gian này sẽ không coi là bị ép buộc, và việc tiếp cận luật sư bào chữa chỉ giới hạn cho những người bị tình nghi có đủ khả năng thuê đại diện pháp luật. Chưa tới 20% người bị tình nghi thuê luật sư bào chữa trong giai đoạn truy tố bởi vì hạn chế này đối với đại diện pháp luật do Nhà nước chỉ định. Quan trọng nhất là ngay cả khi luật sư bào chữa được phép gặp thân chủ thì đặc quyền của luật sư chỉ dừng lại ở mức độ trợ giúp và đưa ra ý kiến pháp lý, chứ không có trợ giúp trong các buổi hỏi cung do người bào chữa không thể có mặt.
Đáp lại lời kêu gọi của các tổ chức phi chính phủ quốc tế về việc cần mở rộng quyền bào chữa cho những người bị tình nghi Nhật Bản, và những yêu cầu bồi thường của luật sư bào chữa
- những người bị hạn chế tiếp cận thân chủ đang bị tạm giam, chính phủ Nhật Bản và cơ quan tư pháp sau đó đã xác nhận rằng việc giải thích Điều 14(3)(d) của ICCPR chỉ áp dụng cho các bị cáo mà không phải đối với người bị tình nghi. Điều 98(2) của Hiến pháp Nhật Bản quy định những điều ước quốc tế mà Nhật Bản đã kí kết phải được tuân thủ một cách trung thực và hiểu theo cách thông thường là ở cấp độ cao luật nội địa theo Hiến pháp. Mặc dù ICCPR là một điều ước, các văn kiện và nghị quyết diễn giải, như Bộ Nguyên tắc (Body of Principles) của Đại hội đồng Liên hợp quốc nêu rõ người bị tình nghi và những người bị giam giữ có toàn quyền được bào chữa nhưng đây không phải là chế định bắt buộc theo quy định của pháp luật Nhật Bản, và việc sử dụng luật sư bào chữa đã bị tòa án Nhật Bản từ chối.
Ngay khi người bị tình nghi có thể thuê luật sư bào chữa, Điều 39(3) của Bộ luật Tố tụng Hình sự trao cho cảnh sát và công tố viên quyền quyết định ngày tháng, địa điểm và thời gian gặp gỡ luật sư-thân chủ với những hạn chế không rõ ràng trong trường hợp việc đó là cần thiết cho điều tra và quyền quyết định đó đã hạn chế một cách không chính đáng quyền chuẩn bị bào chữa của người bị tình nghi. Các luật sư bào chữa và các tổ chức quốc tế khẳng định quy định này vi phạm các quy tắc về quyền con người, tuy nhiên tòa án Nhật Bản cho rằng nó được giải thích theo nghĩa hẹp và việc đó không trái với Điều 34 của Hiến pháp Nhật Bản cũng như Điều 14(3)(b) của ICCPR.
Hiến pháp Nhật Bản không có quy định rõ ràng về quyền giao tiếp riêng tư giữa thân chủ và luật sư. Điều 39(3) của Bộ luật Tố tụng Hình sự Nhật Bản quy định rằng bị cáo hay người bị tình nghi đang bị tạm giam có thể liên lạc với luật sư bào chữa trực tiếp hoặc thông qua văn bản mà không có sự hiện diện của quan chức nhà nước.
Quyền giao tiếp này bị giới hạn khi có yêu cầu ngăn ngừa bị cáo bỏ trốn hay bảo vệ sự toàn vẹn của chứng cứ. Thêm vào đó, một công tố viên hay cảnh sát tư pháp có thể hạn chế quyền liên lạc khi họ thấy điều đó cần thiết cho việc điều tra trước khi truy tố. Điều này thỏa mãn yêu cầu rằng việc chỉ định đó không hạn chế bất hợp lý quyền của bị cáo để chuẩn bị bào chữa.
Tuy nhiên, Liên đoàn Luật sư Nhật Bản cho rằng trên thực tế quyền liên lạc riêng tư giữa thân chủ và luật sư thường bị xâm phạm, thậm chí ngay cả khi bị cáo đã được chuyển sang hệ thống trại giam.

1.3 Kết luận

Mặc dù Hiến pháp Nhật Bản coi quyền bào chữa như một quyền cơ bản và tự do, nhưng những hạn chế nhất định đã giới hạn luật sư do Nhà nước chỉ định chỉ dành cho bị cáo và không cho người bị tình nghi, vấn đề này đã hạn chế rất lớn “quyền” theo như cách hiểu của cộng đồng quốc tế và có thể cả những người soạn thảo Hiến pháp ban đầu. Khả năng để luật sư bào chữa tiếp cận thân chủ còn bị hạn chế hơn trong thực tế và trong việc giải thích Hiến pháp theo tư pháp và hành pháp – là những hạn chế nhìn chung bị cộng đồng quốc tế đánh giá là vi phạm quyền bào chữa cơ bản.

2. Cộng hòa Liên bang Đức

2.1 Nguồn luật tố tụng và hình sự Đức

Hiến pháp Đức, Grundgesetz für die Bundesrepublik Deutschland (Luật cơ bản của Cộng hòa Liên bang Đức) có hiệu lực từ sau chiến tranh thế giới thứ hai ở Tây Đức, và được giữ lại sau khi nước Đức thống nhất hai miền. Nguồn chính của các quy định tố tụng hình sự Đức và liên quan tới quyền bào chữa là Strafprozeßordnung (Bộ luật Tố tụng Hình sự (CCP)). Bộ luật này có hiệu lực từ năm 1877 với rất ít sửa đổi.

2.2 Luật nội dung và áp dụng

Điều 1 của Hiến pháp Đức quy định công nhận tính chất không thể xâm phạm và không thể chuyển dịch của quyền con người và tác động ràng buộc của những quyền đó đối với  cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tuy nhiên, Hiến pháp không quy định rõ ràng về quyền bào chữa; thực tế quyền bào chữa được quy định trong CCP.
CCP có một chương đầy đủ dành cho các quyền luật định và thủ tục tiếp cận người bào chữa cho cá nhân theo hệ thống luật hình sự. Phần đầu tiên của chương này quy định bị cáo phải được “sự hỗ trợ của người bào chữa vào bất kì giai đoạn nào của quá trình tố tụng”. Xét về hình thức, phần đầu này bao quát toàn bộ quá trình tố tụng hình sự trong đó quyền bào chữa không bị giới hạn ở giai đoạn trước khi xét xử hay trong giai đoạn xét xử; tuy nhiên những quy định cụ thể hơn đã làm rõ sự khác nhau giữa quyền bào chữa (và phạm vi của nó) và quyền có sự hiện diện của luật sư bào chữa. CCP yêu cầu người bị tình nghi phải được thông báo về những quyền này vào thời điểm bắt đầu mỗi cuộc thẩm vấn, cho dù cuộc thẩm vấn đó là do cảnh sát, thẩm phán hay công tố viên thực hiện và cho dù người bị tình nghi có đang bị giam giữ hay bị buộc tội không. Thông tin này chỉ cần được cung cấp cho những người bị tình nghi và không phải trong trường hợp cảnh sát hỏi ai đó “một cách không chính thức”.
Bởi vì trên thực tế, người bị tình nghi không thể bị cưỡng ép phải hiện diện để cảnh sát thẩm vấn, do đó sự có mặt của luật sư trong trường hợp này là không bắt buộc. Trước khi thẩm vấn chính thức, người bị tình nghi có quyền hỏi ý kiến của luật sư. Trên thực tế cảnh sát thường cho phép luật sư hiện diện, vì người bị tình nghi thường giữ im lặng cho đến khi luật sư của họ có mặt. Khi một bản khai được đưa ra với sự hiện diện của luật sư, thì luật sư có quyền can thiệp vào quá trình thẩm vấn với mục đích tư vấn và đặt câu hỏi. Nếu người bị tình nghi bị buộc phải tham gia các cuộc thẩm vấn để chuẩn bị buộc tội, thì quyền bào chữa phải được bảo đảm. CCP quy định rõ sự hiện diện của luật sư bào chữa trong quá trình thẩm vấn xét xử và trong quá trình thẩm vấn của công tố viên.
CCP quy định việc chỉ định bắt buộc luật sư bào chữa cho những vụ án có thể dẫn tới hình phạt nghiêm khắc hay bị cáo bị khuyết tật để có thể tự bào chữa. Thẩm phán thụ lý vụ án sẽ tiến hành chỉ định luật sư ở thời điểm sau khi công bố cáo trạng. Tuy nhiên luật sư bào chữa có thể được chỉ định ở giai đoạn điều tra khi văn phòng công tố viên yêu cầu chỉ định luật sư bào chữa. Tòa án Phúc thẩm liên bang Đức cho rằng công tố viên phải có nghĩa vụ yêu cầu việc chỉ định đó khi người bị tình nghi được yêu cầu thực hiện những quyền quan trọng.
Bộ luật Tố tụng Hình sự Đức quy định bị cáo có quyền liên lạc với luật sư bào chữa bằng văn bản và bằng lời nói. Trong trường hợp bị cáo bị buộc tội khủng bố, việc liên lạc này có thể bị ngăn cản. Quy định này không được áp dụng kể từ năm 1977.
Quyền từ chối đưa ra lời khai về cơ sở chuyên môn của người bào chữa và luật sư đối với thông tin được tin tưởng giao cho họ hay họ biết được với tư cách này được bảo vệ theo Bộ luật Tố tụng Hình sự. Phần 97 của Bộ luật này đảm bảo rằng bất kì ghi chép nào có chứa thông tin bí mật mà luật sư bào chữa có được sẽ không bị tịch thu. Những hạn chế này chỉ áp dụng trong phòng giam của người được miễn khai báo, trừ khi những ghi chép này đang để tại bưu điện Những nguyên tắc này không áp dụng trong những tình huống khi luật sư bào chữa bị nghi ngờ là tòng phạm.

2.3 Nghĩa vụ của thành viên Hội đồng Châu Âu

Đức là một thành viên của Hội đồng Châu Âu và là một bên tham gia Công ước Châu Âu về Nhân quyền,141 Điều 6 của Công ước này quy định quyền của người đại diện theo pháp luật.142 Quyết định của Tòa án Nhân quyền Châu Âu về nội dung quyền bào chữa (như đã đề cập ở trên) là rất quan trọng đối với cách thức mà các tòa án của Đức giải thích và áp dụng quyền tố tụng hình sự ở nước này, theo cách thức khác với những thẩm quyền tố tụng ở những nước khác được khảo sát trong Báo cáo này.

2.4 Kết luận

Mặc dù Hiến pháp Đức không quy định rõ quyền bào chữa trong tố tụng hình sự, nhưng quyền này được quy định rõ ràng trong Bộ luật Tố tụng Hình sự Đức. Không có quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra; tuy nhiên có tồn tại quyền bào chữa trong các giai đoạn sau khi đã có cáo trạng của quá trình tố tụng hình sự, bao gồm cả việc tòa án chỉ định luật sư.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê