1. Thủ tục nhận con cần chuẩn bị hồ sơ những gì ?

Thưa anh chị, hiện tại em lấy vợ và vợ em đã có một con gái với chồng trước,bé nay được 5 tuổi. Em muốn làm thủ tục đăng ký kết hôn và nhận con là con gái lấy tên bố là em thì em cần chuẩn bị hồ sơ những gì ?
Rất mong anh chị giúp đỡ.

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê của chúng tôi, trường hợp của bạn được tư vấn như sau;

Căn cứ Luật hôn nhân và gia đình năm 2014Luật hộ tịch năm 2014 quy định như sau:

Thứ nhất, thủ tục đăng ký kết hôn:

- Khi kết hôn bạn phải đảm bảo đủ các điều kiện sau;

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn là: Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

- Hồ sơ để bạn đăng ký kết hôn gồm:

+ Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu

+ Chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của hai bên (photo chứng thực)

+ Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ( Nơi bạn đã từng đăng ký hộ khẩu thường trú, nếu quá khó khăn bạn có thể xin xác nhận của khu phố trước sau đó mới xin xác nhận ở xã, phường)

- Thẩm quyền đăng ký kết hôn cho bạn là Ủy ban nhân dân cấp xã (nếu có yếu tố nước ngoài như điều 37 Luật hộ tịch 2014 thì bạn phải đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh).

- Thời hạn giải quyết: là 1 ngày trừ trường hợp nhận hồ sơ sau 15 giờ mà không giải quyết được ngay thì trả kết quả trong ngày làm việc tiếp theo ( sẽ là 15 ngày nếu có yếu tố nước ngoài theo điều 38 Luật hộ tịch)

Thứ hai, vấn đề nhận con thì bạn không phải cha đẻ của cháu nên không thể làm thủ tục xác nhận cha con thông thường được vì bạn không cùng huyết thống với cháu (không thể có kết quả xác nhận ADN của cơ sở y tế trùng khớp được) nên bạn chỉ có thể nhận cháu là con nuôi khi đảm bảo đủ về:

- Điều kiện nhận nuôi con nuôi:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

d) Có tư cách đạo đức tốt.

Và không thuộc các đối tượng sau: Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; Đang chấp hành hình phạt tù; Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

- Hồ sơ nhận nuôi con nuôi gồm:

1. Đơn xin nhận con nuôi;

2. Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;

3. Phiếu lý lịch tư pháp;

4. Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;

- Thẩm quyền giải quyết việc nhận nuôi con nuôi: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi con của vợ bạn thường trú ( Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết nếu có yếu tố nước ngoài, cụ thể: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Sở Tư pháp trình, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi; trường hợp từ chối thì phải trả lời cho người nhận con nuôi bằng văn bản và nêu rõ lý do. Ngay sau khi có quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp đăng ký việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch, tổ chức lễ giao nhận con nuôi tại trụ sở Sở Tư pháp với sự có mặt của đại diện Sở Tư pháp, người được nhận làm con nuôi, cha mẹ nuôi, đại diện cơ sở nuôi dưỡng đối với trẻ em được xin nhận làm con nuôi từ cơ sở nuôi dưỡng hoặc cha mẹ đẻ, người giám hộ đối với người được xin nhận làm con nuôi từ gia đình và gửi quyết định cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi. Trường hợp người nhận con nuôi không đến nhận con nuôi mà không có lý do chính đáng thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hủy quyết định cho người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi. Việc giao nhận con nuôi phải được lập thành biên bản, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên và đại diện Sở Tư pháp. )

- Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Chưa đủ tuổi kết hôn mà vẫn kết hôn thì bị xử phạt như thế nào ? Có bị phạt tù khi tổ chức tảo hôn ?

2. Thủ tục nhận con khi cha là người nước ngoài ?

Thưa luật sư, Em có con với một người Việt Đang sinh sống tại nước ngoài thì làm thủ tục nhận con như thế nào ạ ? Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo thông tin bạn cung cấp, vấn đề của bạn hiện nay là muốn nhận lại con và muốn ghi tên bố trong giấy khai sinh. Mặt khác, bạn lại là một Việt kiều, do đó thủ tục nhận lại con của bạn sẽ có điểm khác so với người là công dân Việt Nam.

Căn cứ theo Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của bạn là Sở Tư pháp nơi thường trú của con bạn. Thủ tục giải quyết như sau:

Trước hết, về điều kiện nhận cha cho con. Căn cứ Điều 30 Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định:

1. Việc nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau mà ít nhất một bên thường trú tại Việt Nam theo quy định của Nghị định này chỉ được thực hiện nếu bên nhận và bên được nhận đều còn sống vào thời điểm nộp hồ sơ; việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp về việc nhận cha, mẹ, con.

Trường hợp một hoặc cả hai bên không còn sống tại thời điểm nộp hồ sơ hoặc có tranh chấp về xác định cha, mẹ, con thì vụ việc do Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp người được nhận là con chưa thành niên thì phải có sự đồng ý của mẹ hoặc cha, trừ trường hợp mẹ hoặc cha đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự. Nếu con chưa thành niên từ đủ chín tuổi trở lên thì việc nhận cha, mẹ, con phải có sự đồng ý của người con đó.

3. Con đã thành niên nhận cha không phải có sự đồng ý của mẹ, nhận mẹ không phải có sự đồng ý của cha.

4. Trường hợp con chưa thành niên nhận cha thì mẹ làm thủ tục nhận cha cho con, nhận mẹ thì cha làm thủ tục cho con. Trường hợp con chưa thành niên nhận cha mà người mẹ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc nhận mẹ mà người cha đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự thì người giám hộ làm thủ tục nhận cha hoặc nhận mẹ cho con.

Theo đó, bạn là Việt kiều muốn nhận con là công dân Việt Nam. Thông tin bạn cung cấp không nói rõ con bạn hiện nay bao nhiêu tuổi, theo đó, tùy vào tuổi của con bạn thì điều kiện xác nhận con là khác nhau, căn cứ theo quy định của điều luật trên.

Tiếp theo là về hồ sơ xin nhận con được quy định tại Điều 32 Nghị định 126/2014/NĐ-CP như sau:

a) Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con theo mẫu quy định;

b) Bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân, như Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu (đối với công dân Việt Nam cư trú ở trong nước), Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế như Giấy thông hành hoặc Thẻ cư trú (đối với người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài);

c) Bản sao Giấy khai sinh của người được nhận là con trong trường hợp nhận con; của người nhận cha, mẹ trong trường hợp xin nhận

d) Giấy tờ hoặc chứng cứ khác chứng minh quan hệ cha, con hoặc mẹ, con;

đ) Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú (đối với công dân Việt Nam cư trú ở trong nước), bản sao Thẻ thường trú (đối với người nước ngoài thường trú tại Việt Nam) của người được nhận là cha, mẹ, con.

2. Hồ sơ nhận cha, mẹ, con phải do người có yêu cầu nộp trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 31 của Nghị định này.

Theo đó, hồ sơ trong trường hợp của bạn bao gồm: Tờ khai đăng ký nhận con; Bản sao một trong các giấy tờ chứng minh về nhân thân của bạn; Bản sao giấy khai sinh của con bạn muốn nhận; Giấy tờ hoặc chứng cứ chứng minh quan hệ cha con giữa bạn và người con muốn nhận. Khi có đầy đủ các giấy tờ này, bạn phải nộp hồ sơ trực tiếp tại Sở Tư pháp nơi đăng ký thường trú của con bạn.

Thời hạn xác nhận con theo Điều 33 Nghị định 126/2014/NĐ-CP:

Thời hạn giải quyết việc nhận cha, mẹ, con không quá 25 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp, Cơ quan đại diện nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí.

Trường hợp cần xác minh theo quy định tại Khoản 3 Điều 34 hoặc Điểm a Khoản 1 Điều 35 của Nghị định này thì thời hạn trên được kéo dài thêm không quá 10 ngày làm việc.”

Trình tự giải quyết như sau:

2. Ngay sau khi nhận được văn bản yêu cầu của Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm niêm yết việc nhận cha, mẹ, con trong thời gian 07 ngày làm việc tại trụ sở Ủy ban nhân dân. Nếu có khiếu nại, tố cáo về việc nhận cha, mẹ, con thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải gửi văn bản báo cáo ngay Sở Tư pháp.

3. Trường hợp nghi vấn hoặc có khiếu nại, tố cáo về việc nhận cha, mẹ, con hoặc có vấn đề cần làm rõ về nhân thân của các bên cha, mẹ, con hoặc giấy tờ trong hồ sơ thì Sở Tư pháp thực hiện xác minh.

4. Trên cơ sở thẩm tra, xác minh, nếu xét thấy các bên cha, mẹ, con đáp ứng đủ điều kiện nhận cha, mẹ, con thì Giám đốc Sở Tư pháp ký Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con.

Trường hợp từ chối công nhận việc nhận cha, mẹ, con thì Sở Tư pháp thông báo bằng văn bản cho người có yêu cầu, trong đó nêu rõ lý do từ chối.

5. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Giám đốc Sở Tư pháp ký Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con, trừ trường hợp có lý do chính đáng mà các bên cha, mẹ, con có yêu cầu khác về thời gian thì Sở Tư pháp ghi vào sổ đăng ký việc nhận cha, mẹ, con và trao Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con cho các bên cha, mẹ, con. Khi trao Quyết định công nhận cha, mẹ, con, bên nhận và bên được nhận phải có mặt.

Như vậy, sau khi nộp hồ sơ hợp lệ cho Sở Tư pháp và Sở Tư pháp tiến hành xác minh sự việc, nếu đủ điều kiện thì Giám đốc Sở Tư pháp sẽ ký quyết định công nhận việc nhận con của bạn. Sau khi có quyết định của Sở Tư pháp, bạn lấy quyết định đó đem đến Ủy ban nhân dân xã nơi đăng ký Giấy khai sinh của con bạn xin điền thêm vào phần tên cha của đứa bé. Sau khi Ủy ban nhân dân xác minh quyết định đó là đúng và hợp pháp thì sẽ tiến hành ghi tên bạn vào Giấy khai sinh của con bạn và ghi bổ sung vào Sổ hộ tịch.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận cha con mới nhất theo quy định của pháp luật ? Cần những giấy tờ gì để xác nhận cha con ?

3. Chưa kết hôn, khi khai sinh cho con có phải làm thủ tục nhận con ?

Thưa luật sư, Tôi xin trình bày việc liên quan đến vấn đề hộ tịch và mong được giải đáp sớm. (Xin phép được không viết rõ tên). Tôi 43 tuổi, hộ khẩu thường trú tại quận Tây Hồ, Hà nội và tạm trú tại phường Phú Cường, Thủ Dầu Một, Bình Dương từ 10 năm nay.

Tôi sống chung với H. như vợ chồng cũng từ 10 năm nay, nhưng chúng tôi không đăng ký kết hôn. H. có hộ khẩu thường trú tại phường Phú Cường, Thủ Dầu Một, Bình Dương. H. đã ly hôn với chồng cũ từ hơn 10 năm nay (có quyết định của Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một), tuy chưa đăng ký kết hôn nhưng chúng tôi sống hạnh phúc.

Tháng 3 năm 2010 chúng tôi sinh được cháu gái, chúng tôi tới phường để đăng ký khai sinh cho cháu và thừa nhận cháu là con chung, nhưng cán bộ tư pháp phường yêu cầu tôi phải làm thủ tục nhận con, nếu không sẽ bỏ trống phần ghi về cha và cho tờ khai để gửi về Tây Hồ xác nhận việc nhận con.

Quận Tây Hồ không xác nhận và trả lời: căn cứ Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 01/2008/TT-BTP hướng dẫn thực hiện Nghị định 158 thì các cơ quan có trách nhiệm ở Bình Dương thực hiện theo điểm 4 mục II của Thông tư 01: "Trường hợp con sinh ra trước ngày cha, mẹ đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận, thì tên của người cha sẽ được ghi ngay trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của người con mà người cha không phải làm thủ tục nhận con".

Hiện tại, phường Phú Cường, Thủ Dầu Một, Bình Dương vẫn không giải quyết. Kính mong Luật sư chỉ dẫn giúp tôi để cháu sớm được đăng ký khai sinh.

Xin trân trọng cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn. Xin trả lời bạn như sau: quận Tây Hồ trả lời đúng nếu hai bạn đã đăng ký kết hôn. Trường hợp chưa đăng ký kết hôn, mà muốn làm khai sinh cho con có họ tên cha, thì bắt buộc phải làm thủ tục nhận con, kết hợp với đăng ký khai sinh cho con cùng một lúc tại UBND phường Phú Cường.

Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 01/2008/TT-BTP hướng dẫn thì UBND phường nơi đây phải giải quyết cho đương sự. trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản, bạn có thể khiếu nại nếu họ từ chối đăng ký.

Có gì cần trao đổi thêm bạn có thể liên lạc bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900.6162 để được tư vấn, hỗ trợ. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục đăng ký nhận con và làm giấy khai sinh cho con ? Nhận con ngoài giá thú như thế nào ?

4. Việc chuyển giao cho Toà án giải quyết việc cha nhận con ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Vợ chồng ông Quynh và bà Hảo kết hôn đã nhiều năm nhưng chưa có con. Bà Hảo vì day dứt chuyện mình không có khả năng sinh con nên từ năm 2004, mặc dù biết chồng mình đi lại quan hệ với cô Thái, một phụ nữ lỡ thì ở xã K gần đó nhưng bà Hảo coi như không biết.

Tháng 6 năm 2006, cô Thái sinh con với ông Quynh. Khi con đầy tháng, cả cô Thái và ông Quynh cùng đến Uỷ ban nhân dân xã K, nơi cô Thái cư trú để làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con. Hai người trình bày nguyện vọng được đăng ký khai sinh cho cháu bé, đồng thời đề nghị chính quyền xác nhận và ghi tên ông Quynh vào phần khai về người cha trong Giấy khai sinh của cháu bé. Theo sự hướng dẫn của cán bộ tiếp dân, ông Quynh đã làm Tờ khai đăng ký nhận con. Biết chuyện này, bà Hảo đến Uỷ ban nhân dân xã K để khiếu nại. Gặp cán bộ tư pháp của xã K, bà Hảo xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn giữa bà và ông Quynh và yêu cầu Uỷ ban nhân dân xã K phải giải quyết một trong hai đề nghị của bà như sau:

- Thứ nhất, nếu Uỷ ban nhân dân xã K muốn giải quyết việc ghi tên ông Quynh vào phần khai về người cha trong Giấy khai sinh của cháu bé thì phải ghi tên bà vào phần khai về người mẹ, vì bà và ông Quynh là vợ chồng hợp pháp. Do đó, theo bà nếu ông Quynh được công nhận là cha thì từ đó suy ra, đương nhiên bà phải là mẹ của cháu bé;

- Thứ hai, nếu Uỷ ban nhân dân xã K không chấp nhận giải quyết như trên thì không được ghi tên ông Quynh vào giấy khai sinh của cháu bé, vì ông Quynh không phải là chồng của cô Hảo, mà là chồng hợp pháp của bà. Theo bà, nếu Uỷ ban nhân dân xã ghi tên ông Quynh vào phần khai về người cha, bên cạnh tên cô Thái được ghi ở phần khai về người mẹ thì như vậy là Uỷ ban nhân dân xã công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Quynh và cô Thái.
Cán bộ tư pháp thấy cả hai yêu cầu của bà Hảo đều vô lý nhưng chưa biết cách giải thích như thế nào nên báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã để xin ý kiến chỉ đạo. Cho rằng việc nhận con có phát sinh tranh chấp nên đồng chí Chủ tịch Uỷ ban xã đã chỉ đạo cán bộ tư pháp dừng việc giải quyết đăng ký nhận con và hướng dẫn các bên liên quan tới Toà án huyện để giải quyết theo thẩm quyền.

Uỷ ban nhân dân xã giải quyết như vậy có đúng không ?

Việc chuyển giao cho Toà án giải quyết việc cha nhận con ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trong tình huống nói trên, để khẳng định việc chuyển giao vụ việc cho Toà án thụ lý giải quyết có đúng hay không cần căn cứ vào các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để xác định xem việc cha nhận con có phát sinh tranh chấp hay không?

Về tính chất của vụ việc: Có phát sinh tranh chấp trong quan hệ cha nhận con hay không?

Trước hết, cần khẳng định rằng cháu bé do chị Thái sinh ra là con ngoài giá thú, chưa xác định được người cha. Do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm giúp đỡ để xác định cha cho cháu bé, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp và tạo điều kiện cho sự phát triển bình thường của cháu bé về sau. Các cơ quan có thẩm quyền giúp đỡ xác định cha cho trẻ trong quy định nói trên bao gồm: cơ quan đăng ký hộ tịch (trong trường hợp này là Uỷ ban nhân dân xã K) hoặc Toà án cấp huyện.

Theo quy định tại Điều 64 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì trong việc xác định quan hệ cha, mẹ, con, Toà án chỉ thụ lý giải quyết khi việc nhận cha, mẹ, con đó có tranh chấp giữa các bên trong quan hệ này. Còn trong trường hợp việc cha, mẹ nhận con hoặc con nhận cha, mẹ có sự tự nguyện giữa các bên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan đăng ký hộ tịch thông qua thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con (được quy định tại Mục 6 Chương II Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về đăng ký hộ tịch).

Căn cứ vào các quy định nói trên, có thể thấy việc đồng chí Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã K cho rằng việc ông Quynh nhận con có tranh chấp, do đó cần chuyển giao vụ việc cho Toà án huyện giải quyết là không đúng, bởi vì:

- Các chủ thể của quan hệ cha nhận con trong vụ việc này là cô Thái, ông Quynh và cháu bé. Trong đó cô Thái - với tư cách người mẹ - là người đại diện cho con để thực hiện việc xác định cha cho con. Chỉ có ý kiến của cô Thái và ông Quynh mới có giá trị pháp lý để cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết việc cha nhận con. Bà Hảo - người vợ hợp pháp của ông Quynh không có tư cách chủ thể trong quan hệ cha nhận con này.

- Cả cô Thái và ông Quynh đều bày tỏ ý chí tự nguyện và thống nhất công nhận ông Quynh là cha của cháu bé. Giữa các bên chủ thể trong quan hệ cha nhận con này không phát sinh tranh chấp. Bà Hảo không phải là chủ thể có tư cách pháp lý tham gia vào quan hệ cha nhận con, do đó, khiếu nại của bà Hảo không phải là căn cứ làm phát sinh tranh chấp trong quan hệ cha nhận con.

Như vậy, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 32 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP thì việc ông Quynh nhận con thoả mãn đầy đủ điều kiện để có thể yêu cầu Uỷ ban nhân dân xã K thụ lý giải quyết việc đăng ký cha nhận con theo thủ tục đăng ký hộ tịch. Uỷ ban nhân dân xã K cần tiếp tục thụ lý việc giải quyết đăng ký cha nhận con, không chuyển giao vụ việc cho Toà án cấp huyện vì việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này không thuộc thẩm quyền của cơ quan xét xử.

Về các yêu cầu của bà Hảo

Với hai yêu cầu mà bà Hảo nêu lên, cán bộ tư pháp cần phân tích, giải thích cho bà Hảo hiểu rằng đây là những yêu cầu không hợp pháp, xâm phạm đến quyền nhân thân của người khác bằng sự lý giải như sau:

- Bà Hảo không phải là người mẹ sinh ra cháu bé, không có quan hệ huyết thống với cháu bé, do đó pháp luật hộ tịch không cho phép ghi tên người không phải là mẹ vào “phần khai về người mẹ” trong Giấy khai sinh của cháu bé (trừ trường hợp cô Thái đồng ý cho cháu bé làm con nuôi của bà Hảo và việc đăng ký nuôi con nuôi đã được thực hiện).

- Mặc dù bà Hảo là người vợ hợp pháp của ông Quynh nhưng quan hệ vợ chồng giữa ông Quynh và bà Hảo không đương nhiên dẫn đến việc bà Hảo được công nhận tư cách là mẹ của con riêng của ông Quynh vì quan hệ vợ chồng và quan hệ cha, mẹ, con là những quan hệ pháp luật độc lập.

- Trên Giấy khai sinh của một cá nhân thể hiện “phần khai về người cha” và “phần khai về người mẹ” (nhằm mục đích xác định quan hệ cha với con và mẹ với con), chứ không thể hiện nội dung “phần khai về người vợ” và “phần khai về người chồng”. Do đó, dù cô Thái và ông Quynh không có quan hệ hôn nhân hợp pháp thì vẫn có thể cùng được khai tên trên Giấy khai sinh của con mình, vì ông Quynh có tư cách là cha của cháu bé (sau khi đã được đăng ký việc cha nhận con). Việc ghi tên ông Quynh và cô Thái như vậy không có ý nghĩa công nhận quan hệ vợ chồng giữa hai người này. Quan hệ cha, con giữa ông Quynh và cháu bé được pháp luật bảo hộ, thể hiện ngay từ việc ghi các thông tin về ông Quynh trên Giấy khai sinh của cháu bé. Việc bà Hảo đề nghị Uỷ ban nhân dân xã không được ghi tên ông Quynh vào Giấy khai sinh của cháu bé là ngăn cản việc thực hiện quyền nhân thân của cá nhân theo quy định tại Điều 25 và Điều 43 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng của ông Quynh và cô Thái

Trong vụ việc này, với việc quan hệ và có con với cô Thái, ông Quynh đã có hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. Uỷ ban nhân dân xã K cần xem xét xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này của ông K theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

Đối với cô Thái, Uỷ ban nhân dân xã K cần xác minh làm rõ: nếu cô Thái biết rõ ông Quynh đã có vợ nhưng vẫn duy trì việc chung sống với ông Quynh thì cũng bị xử phạt về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng tương tự như với ông Quynh. Tuy nhiên, nếu xác minh cho thấy cô Thái bị ông Quynh lừa dối, che giấu tình trạng hôn nhân khiến cô Thái không biết được là ông Quynh đã có vợ thì không áp dụng việc xử phạt với cô Thái. Xem thêm: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em số 25/2004/QH11

Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Tư vấn việc người cha từ chối nhận con ? Thủ tục khởi kiện yêu cầu xác nhận cha cho con ?

5. Việc nhận con của người bố trong trường hợp tảo hôn ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Đối với những trường hợp tảo hôn, cả bố và mẹ chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn, khi sinh con ra bố có được làm thủ tục nhận con không?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: H.T.H.G

Điều 11 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 quy định:

" Điều 11. Quyền được khai sinh và có quốc tịch

1. Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch.

2. Trẻ em chưa xác định được cha, mẹ, nếu có yêu cầu thì được cơ quan có thẩm quyền giúp đỡ để xác định cha, mẹ theo quy định của pháp luật."

Điều 88 và Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

" Điều 91. Quyền nhận con

1. Cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết.

2. Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia."

Như vậy, trường hợp của bạn là con sinh ra khi bố mẹ chưa đăng ký kết hôn. Do đó, con của bạn vẫn có quyền được khai sinh, thủ tục khai sinh được thực hiện theo quy định khai sinh cho con ngoài giá thú. Đồng thời bạn cũng có quyền nhận con theo quy định trên.

Trong trường hợp này, bạn thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho con, và để con mang họ cha theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật hộ tịch như sau:

"3. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 của Luật Hộ tịch thì Ủy ban nhân dân kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này."

Theo đó, lúc này, hai bạn thực hiện đồng thời thủ tục khai sinh cho con và thủ tục cha nhận con, theo đó, bạn cần thực hiện thủ tục sau:

- Người đi đăng ký khai sinh phải nộp giấy chứng sinh (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy Chứng minh nhân dân;

- Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế thì Giấy chứng sinh được thay thế bằng giấy xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người làm giấy khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.

- Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, Chủ tục UBND cấp xã ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh, bản sao giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh

- Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu tại thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã kết hợp việc nhận con và đăng ký khai sinh.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã lựa chọn công ty Luật Minh Khuê!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục cha nhận con ? Thủ tục cha nhận con khi chưa có đăng ký kết hôn như thế nào ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ ở đâu?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 15 nghị định 123/2015/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch, có quy định về đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ như sau:

Điều 15. Đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ

1. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ đang cư trú có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ.

2. Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống.

Câu hỏi: Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con theo quy định hiện hành?

Trả lời:

 Theo hướng dẫn tại Điều 25 – Luật Hộ tịch 2015  như sau:

Điều 25. Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con

1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc.

Câu hỏi: Hồ sơ đăng kí nhận cha cho con?

Trả lời:

Hồ sơ bao gồm:

- Tờ khai (theo mẫu)

- Văn bản có sự đồng ý của người mẹ

-Giấy khai sinh (bản chính hoặc bản sao) của người con

- Giấy tờ chứng minh quan hệ cha – con