1. Thủ tục nhận cha, con khi người cha đã chết ?
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Thứ nhất, Quyền nhận cha, me:
Theo quy định tại khoản 1, Điều 90, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.
"Điều 90. Quyền nhận cha, mẹ1. Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.2. Con đã thành niên nhận cha, không cần phải có sự đồng ý của mẹ; nhận mẹ, không cần phải có sự đồng ý của cha."
Thứ hai, Thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con:
Đối với trường hợp người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết thì thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án (Theo khoản 2, Điều 101, Luật Hôn nhân và gia đình 2014).
"Điều 101. Thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự."- Luật Hôn nhân và gia đình 2014
Thứ ba, Hồ sơ yêu cầu:
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.
2. Mẫu Giấy quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con
| ỦY BAN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: ............./QĐ-STP | …………, ngày ….. tháng ….. năm 201 … |
QUYẾT ĐỊNH
Công nhận việc nhận cha, mẹ, con
GIÁM ĐỐC SỞ TƯ PHÁP
Căn cứ Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình;
Xét đề nghị công nhận việc nhận ………………………….. của ...........
...............................................................................................................
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Công nhận người có tên dưới đây:
Họ và tên: .................................................................................................
Ngày, tháng, năm sinh: ...............................................................................
Dân tộc: ……………………………………. Quốc tịch: ................................
Giấy CMND/Hộ chiếu/Giấy tờ hợp lệ thay thế số: ......................................
Nơi thường trú/tạm trú: ................................................................................
......................................................................................................................
Là …………………………… của người có tên dưới đây:
Họ và tên: ......................................................................................................
Ngày, tháng, năm sinh: ..................................................................................
Dân tộc: ……………………………………. Quốc tịch: .....................................
Giấy CMND/Hộ chiếu/Giấy tờ hợp lệ thay thế số: ...........................................
Nơi thường trú/tạm trú: ....................................................................................
........................................................................................................................
Điều 2. ..............................................................................................................
và những người có tên tại Điều 1 chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
Vào Sổ đăng ký nhận cha, mẹ, con số: ... Quyển số …… ngày … tháng … năm ……
| Nơi nhận: | GIÁM ĐỐC |
3. Mẫu tờ khai đăng ký việc nhận cha, mẹ ?
>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỜ KHAI ĐĂNG KÝ VIỆC NHẬN CHA, MẸ
(Dùng cho trường hợp con đã thành niên nhận cha, mẹ)
Kính gửi:(1) ...................................................
Họ và tên: ……………………… Giới tính:…………………………..
Ngày, tháng, năm sinh: ...................................................................
Dân tộc:........................................ Quốc tịch: .................................
Nơi thường trú/tạm trú: (2)................................................................
Số Giấy CMND/Giấy tờ hợp lệ thay thế: (3)......................................
Đề nghị (1)...... công nhận người dưới đây là(4) ............... của tôi:
Họ và tên: ...........................................................................................
Ngày, tháng, năm sinh: ......................................................................
Dân tộc: .................................... Quốc tịch: ......................................
Nơi thường trú/tạm trú: (2) ................................................................
Số Giấy CMND/Giấy tờ hợp lệ thay thế: (3) ........................................
Tôi cam đoan những nội dung khai trên đây là đúng sự thật, việc nhận(4) ………………của tôi là tự nguyện và chịu trách nhiệm trước pháp luật về cam đoan của mình.
Làm tại: ................. , ngày .............. tháng . năm
| Người khai (Ký, ghi rõ họ tên) ………………………………… |
| Các giấy tờ, tài liệu kèm theo (nếu có) để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con: …………………………………………………….. …………………………………………………….. | Ý kiến của người được nhận là cha/mẹ: …………………………………………………….. …………………………………………………….. (ký, ghi rõ họ tên) |
Chú thích:
(1) Ghi rõ tên cơ quan đăng ký việc nhận cha, mẹ.
(2) Ghi theo địa chỉ đăng ký thường trú và gạch cụm từ “tạm trú”; nếu không có nơi đăng ký thường trú thì gạch cụm từ “thường trú” và ghi theo địa chỉ đăng ký tạm trú.
(3) Nếu ghi theo số CMND, thì gạch cụm từ “Giấy tờ hợp lệ thay thế”; nếu ghi theo số Giấy tờ hợp lệ thay thế thì ghi rõ tên giấy tờ và gạch cụm từ “CMND”.
(4) Nếu nhận cha thì ghi chữ “cha”, nếu nhận mẹ thì ghi chữ “mẹ”.
---------------------------------------------------
THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:
2. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;
3. Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;
4. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;
4. Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con theo quy định ?
Luật sư trả lời:
Điều 91 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
"Điều 91. Quyền nhận con
1. Cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết.
2. Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia."
Việc nhận con của cha được xác định là quyền. Được quy định cụ thể tại Luật hôn nhân và gia đình và Luật hộ tịch. Nếu trong trường hợp các bên không có tranh chấp, việc nhận con sẽ thực hiện tại Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con ( Điều 24 Luật hộ tịch 2014).
Về thủ tục đăng ký nhận con được quy định tại Điều 25 Luật hộ tịch 2014 như sau:
"Điều 25. Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con
1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc."
Đồng thời tại Điều 14 Thông tư 04/2020/TT-BTP như sau:
"Điều 14. Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con
Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.
2. Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều này thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 5 Thông tư này, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con."
Như vậy, khi anh ( người chung sống với chị ) muốn đăng ký nhận con thì sẽ tiến hành nộp tờ khai và chứng cứ chứng minh quan hệ cha, con ( kết quả xét nhiệm ADN hoặc thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con và và có văn bản cam đoan về việc trẻ là con chung của hai người).
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.
5. Tòa án hay cơ quan nào xác định Cha, Mẹ, Con ?
TIẾN HIỂU
Người mẹ nói không hề có chuyện tranh chấp con nên việc xác nhận cha thuộc trách nhiệm giải quyết của Sở Tư pháp.
Muốn kết hôn để con có cha
Người mẹ cho biết bà và ông S. quen nhau khi đi du lịch tại đồng bằng sông Cửu Long vào đầu năm 2003. Sau chuyến đi, hai người thường liên lạc rồi về sống chung. Được ít lâu, bà có thai.
Lúc này, cả hai chuẩn bị hồ sơ để làm thủ tục kết hôn. Thế nhưng thủ tục sắp hoàn thành thì ông S. đột nhiên từ chối, không muốn kết hôn nữa. Bị từ hôn, bà chịu nhiều áp lực về kinh tế cũng như những lời gièm pha từ gia đình, dòng họ khi phải sinh con một mình.
Tuy chịu nhiều sóng gió, bà vẫn cố níu kéo tình cảm của ông. Có bận bà đã lặn lội đưa con trai sang Canada thuyết phục ông kết hôn để trong giấy khai sinh của con không khuyết tên cha. Những tưởng khi đưa con sang, ông S. sẽ đồng ý nhưng bà chỉ nhận được sự hững hờ.
Nhận thấy mọi cố gắng của mình không thành, bà đưa con trai quay về nước và coi như chưa từng quen biết ông. Kể từ đó, bà đã một mình gồng gánh nuôi con học hành mà không nhận được bất cứ sự giúp đỡ nào từ phía ông. Thỉnh thoảng ông S. quay lại Việt Nam và xin phép bà cho đưa con đi chơi mấy ngày, bà vui vẻ đồng ý…
.
Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162
Cha kiện đòi con
Tháng 2-2009, ông S. bỗng dưng điện thoại cho bà bảo đã gặp luật sư, chuẩn bị kiện bà ra tòa để đòi con. Tưởng ông nói đùa, bà cũng không mấy để ý. Nhưng ba tháng sau, bà nhận được giấy triệu tập của TAND TP.HCM với tư cách là bị đơn trong vụ án xác định cha cho con.
Tiếp đến, tháng 10-2009, tòa thành phố ra quyết định trưng cầu giám định ADN của con trai bà. Theo tòa, ông S. đã gửi đơn phàn nàn bà có biểu hiện gây khó khăn cho ông trong việc gặp gỡ, chăm sóc và thực hiện nghĩa vụ làm cha của mình. Bà cũng đã có hành vi cản trở việc xác định cha cho con. Do vậy, ông yêu cầu tòa cho đi trưng cầu giám định để bảo vệ quyền lợi cho ông. Đây là yêu cầu hợp lý, tòa không thể từ chối.
Thẩm quyền giải quyết thuộc Sở Tư pháp
Để tiếp tục xử lý vụ kiện, ngày 29-4 vừa qua, tòa đã triệu tập hai bên lấy ý kiến.
Người mẹ đã phản ứng việc tòa thụ lý vụ án khiến bà ngỡ ngàng vì nó khá vô lý. Từ lâu bà vẫn muốn con trai mình chính thức mang họ cha. Sự việc đã được chứng minh là bà bỏ ra nhiều tiền bạc, công sức sang tận Canada yêu cầu ông S. cưới bà và nhận con. Nay bà lại bị kéo đến tòa thì thật trớ trêu.
Mặt khác, bà khẳng định không hề cản trở ông S. nhận con. Bà hoàn toàn đồng ý việc xác nhận cha cho con trai bà. Do vậy, bà yêu cầu tòa đình chỉ vụ án này để chuyển hồ sơ cho Sở Tư pháp giải quyết. Bởi bà và ông S. không hề có tranh chấp nên theo Nghị định 68 của Chính phủ (quy định về việc xác nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài), việc này thuộc thẩm quyền của Sở Tư pháp.
Tuy nhiên, phía ông S. đã không đồng tình và tiếp tục yêu cầu tòa giám định ADN nên cả hai bên đành phải ra về chờ tòa xử lý tiếp.
Tòa thụ lý là đúng
Tòa thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của ông S. là đúng thẩm quyền. Mặc dù người mẹ cho rằng không cản trở, không tranh chấp về con cái nhưng hai bên vẫn không thống nhất được việc làm thủ tục. Vì vậy, tòa vẫn phải tiếp tục xử lý vụ án, cho trưng cầu giám định ADN. Sở Tư pháp chỉ có thể giải quyết trong trường hợp người mẹ và ông S. cùng thống nhất với nhau là nộp hồ sơ qua Sở để làm thủ tục xác nhận cha cho con.
Tiến sĩ NGUYỄN TIẾN, giảng viên Trường ĐH Luật TP.HCM
(MINH KHUE LAW FIRM: Biên tập)