1. Đánh bài ghi điểm bị công an xã bắt

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Mấy anh em tôi đi công tác và có đánh bài ghi điểm uống nước. Khi công an xã đến lập biên bản tịch thu giấy CMND, 1 bộ bài, 1 tờ giấy ghi điểm.
Ngoài ra khi kiểm tra trong người chúng tôi chỉ có 1 người có mang ví tiền tổng số tiền trong ví là 506.000 đồng và 2 cái điện thoại di động công an tịch thu hết và hẹn chúng tôi chủ nhật lên cơ quan công an giải quyết. Chủ nhật chúng tôi lên thì nhận được quyết định phạt hành chính mỗi người 500.000 đồng, sau khi năn nỉ và có thái độ nhận tội mức phạt giảm xuống còn 1.000.000 đồng cho 4 người vi phạm cộng với số tiền đã bị tịch thu (506.000 đồng).
Tuy nhiên không có phiếu thu hay giấy tờ nộp phạt hành chánh mà công an xã chỉ nói và nhận tiền rồi trả điện thoại, giấy CMND và kết thúc buổi làm việc. Như vậy có đúng với pháp luật của Việt Nam hay không?
Người gửi: Tran Huu Huy

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến: 1900.6162


Trả lời :

Chào anh,Với hành vi đánh bài ghi điểm uống nước vẫn được coi là hành vi đánh bạc trái phép và tùy vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà hành vi này có thể được xác định là hành vi vi phạm hành chính hoặc hành vi vi phạm hình sự.

Mặt khác, điểm a Khoản 4, Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định tại Điều 248 và 249 của Bộ luật Hình sự do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, trong đó có hướng dẫn cụ thể về cách tính số tiền bỏ ra đánh bạc trái phép nhằm xác định người đánh bạc có phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Cụ thể như sau: Khi xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc cần phân biệt: Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc được hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.

Khoản 3 Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP có hướng dẫn

“a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc;

b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;

c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.”

Như vậy, khi công an xã phát hiện ra hành vi đánh bạc và lập biên bản về hành vi nói trên, không thu giữ được tại chiếu bạc bất kỳ một khoản tiền nào, tuy nhiên thu giữ được trong 1 người có mang ví tiền tổng số tiền trong ví là 506.000 đồng và 2 cái điện thoại di động và có căn cứ xác định số tiền và 2 chiếc điện thoại đó đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc thì đó sẽ là căn cứ để tính số tiền bỏ ra đánh bạc và là cơ sở cho việc xác định hành vi đánh bạc nói trên là hành vi vi phạm hành chính hay vi phạm pháp luật hình sự.

>> Tham khảo dịch vụ: Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự

>> Xem thêm:  Cá độ bóng đá có thể đối diện với hình phạt tù

2. Căn cứ khởi tố tội đánh bạc như thế nào ?

Kính gửi công ty luật Minh Khuê, cháu có câu hỏi thắc mắc ạ: Cháu có cậu em trai chưa có tiền án, tiền sự nhưng đợt trước tết có tham gia đánh bạc và bị công an bắt. Gia đình nhờ người và đã đưa tiền cho người trung gian đó cũng làm công chức nhà nước và có quen biết bên công an huyện 20tr để em trai em được về nhà không bị giam.
Tổng số tiền thu trên bàn bạc là 3tr450k trong đó em trai cháu khai trên hồ sơ là 300k đứng thứ 5 trong 11 người đánh bạc.Hiện tại sắp đến thời gian xử án cháu rất lo lắng các chú cho cháu hỏi với trường hợp như của em trai cháu có bị khởi tố không ạ.Cháu rất mong nhận được sự tư vấn của cô chú.
Cháu cảm ơn ạ!

Căn cứ khởi tố tội đánh bạc như thế nào ?

Luật sư tư vấn Luật hình sự trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời: Căn cứ quy định tại điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sưa đổi bổ sung 2017
Đồng thời theo hướng dẫn Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 22/10/2010

Điều 1. Về một số quy định tại Điều 248 của Bộ luật hình sự

1. “Đánh bạc trái phép” là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp.

2. Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét; cụ thể như sau:

a) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (dưới 2.000.000 đồng) và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc;

b) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần đánh bạc nào bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó;

c) Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự;

d) Trường hợp đánh bạc từ năm lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) và lấy tiền, hiện vật do đánh bạc mà có làm nguồn sống chính thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật hình sự.

3. “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” bao gồm:

a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc;

b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;

c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.

Đánh bạc trái phép được hiểu là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp.

Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc. Nói cách khác, khi xử lý các vụ việc đánh bạc thì những người cùng tham gia đánh bạc với nhau bị xử lý với vai trò đồng phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng số tiền thu được trên chiếu bạc. Việc người này, người kia chơi nhiều, chơi ít không liên quan đến việc định tội mà chỉ có thể là tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình. Ví dụ khi công an bắt một vụ đánh bạc thu được trên chiếu bạc là 10 triệu đồng thì dù trong chiếu bạc có người chỉ đặt cược một lần duy nhất trị giá 100.000 đồng (không phân hiệt lần đặt cược này thua hay thắng bao nhiêu) thì anh ta vẫn bị truy tố về tội đánh bạc với mức của đồng phạm là 10 triệu đồng.

>> Xem thêm:  Tư vấn xử lý hành vi cá cược trên mạng?

3. Đánh bạc với tổng số tiền là 20 triệu đồng

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi có người thân bị bắt về tội đánh bạc. Trong xới có 20 triệu, vậy người thân của tôi có thể bị phạt bao nhiêu năm tù ?

Trả lời:

Bạn không nói rõ thời điểm bị bắt là thời điểm nào nên Chúng tôi chia thành hai trường hợp:

Theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự 2015

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13
...
120. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 321 như sau:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”.

Trong xới có 20 triệu, như vậy người thân của bạn có thể bị quy trách nhiệm vào tội đánh bạc ở Khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự, người thân của bạn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Tùy vào tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà khung hình phạt có thể thay đổi theo quy định của pháp luật hình sự.

Ngoài ra luật hình sự năm 2015 còn quy định về một số tội danh như:

Điều 322. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Tổ chức, sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên mà số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

b) Tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần có giá trị 20.000.000 đồng trở lên;

c) Tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc; phân công người canh gác, người phục vụ, sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;

d) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

>> Xem thêm:  Chơi game quy đổi từ tiền ra điểm có vi phạm pháp luật không?

4. Xe máy chở bạn đi đánh bạc

Thưa luật sư, chồng tôi có chơi đánh bạc bị công an bắt. Từ lúc bị bắt đến nay đã 3 hôm nhưng chưa thấy tin tức gì, chỉ nghe mọi người nói là khi thu ở chiếu bạc và tang vật 12 triệu trở lên. Tôi cũng không rõ là số tiền nhiều không. xe máy chồng em đi cũng bị đưa lên công an. Liệu xe đó em có thể lấy lại được không khi xe là của 2 vợ chồng ?
Xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

1. Tội đánh bạc cấu thành như thế nào ?

Tội đánh bạc là hành vi có ít nhất 02 người trở lên cùng tham gia, có sự thỏa thuận thắng thua bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị dưới bất kỳ hình thức nào. Tội đánh bạc có các đặc điểm pháp lý như sau:
- Thắng thua bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng.
- Thắng thua bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị dưới 5 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc các hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật hình sự 2015.
- Đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc các tội khác quy định tại Điều 322 của Bộ luật hình sự 2015.
- Chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Các yếu tố cấu thành tội phạm đánh bạc
Mặt khách quan: Hành vi đánh bạc dưới bất kì hình thức nào, có thắng thua bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị từ 5 triệu đồng - 50 triệu đồng; tiền hoặc hiện vật có giá trị dưới 5 triệu đồng nhưng trước đó đã vi phạm hành vi tương tự mà chưa được xóa án tích.
Tiền và hiện vật dùng để đánh bạc được xác định bằng tiền và hiện vật thu giữ tại chiếu bạc; tiền và hiện vật trên người các con bạc mà có căn cứ sẽ dùng để đánh bạc; tiền và hiện vật thu giữ ở nơi khác mà có căn cứ sẽ dùng để đánh bạc.
- Đối với người đánh bạc dưới hình thức cá độ, đánh đề: Tiền và hiện vật được xác định bằng số tiền đã bỏ ra cộng với số tiền thắng được.
- Đối với chủ đề, chủ cá độ: Tiền và hiện vật được xác định bằng số họ đã nhận được từ người chơi và số họ đã trả cho người trúng.
Mặt chủ quan được xác định bằng lỗi cố ý thực hiện hành vi dù biết đó là hành vi vi phạm pháp luật.
Mặt chủ thể: Cá nhân đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật và người từ đủ 16 tuổi trở lên.
Mặt khách thể: Hành vi ảnh hưởng đến trật tự công cộng, an toàn xã hội.

2. Thời hạn tạm giữ về tội đánh bạc là bao nhiêu ?

Tạm giữ có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.Quyết định tạm giữ phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị tạm giữ, lý do tạm giữ, giờ, ngày bắt đầu và giờ, ngày hết thời hạn tạm giữ và các nội dung. Quyết định tạm giữ phải giao cho người bị tạm giữ.

Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải gửi quyết định tạm giữ kèm theo các tài liệu làm căn cứ tạm giữ cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền. Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú.
Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 03 ngày. Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.

3. Xử lý vật chứng như thế nào ?

Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.
Vật chứng được xử lý như sau:Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy;Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền có quyền:Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó;Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án;Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy;Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
=> Như vậy, xe máy của chồng bạn có vai trò với tư cách là phương tiện cho chồng bạn thực hiện tội phạm do đó cũng sẽ được xem xét xử lý giải quyết.
Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem thêm:  Tư vấn mở quán chơi poker tại hà nội ?

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hình phạt đối với hành vi cung cấp mạng cá độ bóng đá ăn tiền ?