1. Đánh nhau, đâm chết người bị xử lý như thế nào ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi như sau: Một người kiếm chuyện với bố tôi, lúc đó bố tôi cũng say nên đánh lại. Ông bác tôi thấy vậy lấy dao ra đâm chết người đó tại chỗ. Người kia cố ý gây chuyện, gây thương tích chứ bố tôi không có ý. Vậy bố tôi có chịu hình phạt pháp luật không?
Xin cảm ơn Luật sư!
Người gửi: Nguyễn Trường An

>> Luật sư tư vấn luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì người bị hại có lỗi trong vụ việc. Tuy nhiên, bố bạn vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi 2009:

"Điều 14. Phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác

Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự."

Nếu thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội phạm cố ý gây thương tích thì bố bạn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 104 hoặc 105 Bộ luật Hình sự:

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Điều 105. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm :

a) Đối với nhiều người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác."

Tuy nhiên, bố bạn có thể được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 46 Bộ Luật Hình sự 1999, sửa đổi 2009: đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra; nếu hành vi của người bị hại thỏa mãn dấu hiệu này.

Còn hậu quả người bị hại bị chết thì ông bác của bạn phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội giết người theo quy định tại Điều 93 hoặc Điều 95 Bộ uật hình sự 1999, sửa đổi 2009:

"Điều 93. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết nhiều người;

b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

c) Giết trẻ em;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm...

Điều 95. Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

1. Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Giết nhiều người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm."

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Mang vũ khí nào để tự vệ thì không vi phạm pháp luật ? Mang vũ khí bị xử phạt như thế nào ?

2. Uống rượu say rồi đánh nhau bị xử phạt như thế nào?

Luật Minh Khuê tư vấn quy định của pháp luật hiện hành về xử phạt hành chính đối với hành vi uống rượu, gây rối trật tự công cộng theo quy định của pháp luật hiện hành:

Luật sư tư vấn:

Uống rượu và chúc rượu từ lâu đã được xem là một nét văn hóa truyền thống của nhiều quốc gia, dân tộc, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, việc uống rượu quá nhiều, uống đến mất khả năng kiểm soát bản thân, không chỉ làm mất đi nét đẹp văn hóa truyền thống mà trong nhiều trường hợp còn gây ra những hậu quả không mong muốn, gây thiệt hại về người và của, đôi khi còn khiến chủ thể say rượu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật do hậu quả của hành vi mình gây ra khi say rượu. Tùy theo mức độ của hậu quả mà người say rượu sẽ phải chịu các hình thức xử lý khác nhau theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 2 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thì các hành vi “đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau” và “say rượu, bia gây mất trật tự công cộng” sẽ bị phạt tiền từ
Đối với các trường hợp hậu quả xảy ra lớn hơn, cụ thể là đánh nhau gây thương tật từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì bị xử lý hình sự theo quy định tại Điều luật này, bao gồm các trường hợp:
“a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;
b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;
d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Có tổ chức;
g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;
i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;
k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân”.
Do thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi chưa rõ ràng về mức độ thương tích của hai thành viên kể trên cũng như hành vi cụ thể mà họ đã thực hiện nên chúng tôi chưa thể đưa ra tư vấn chính xác về hình thức xử phạt dành cho hai người bạn này của bạn. Tuy nhiên, bạn có thể tự mình so sánh, đối chiếu tình hình thực tế với những quy định trên đây để tìm được mức xử phạt hợp lý nhất cho trường hợp này.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Ba nguyên nhân dẫn đến ghen tuông mù quáng trong tình yêu ? Đánh ghen có phạm pháp ?

3. Khiêu khích dẫn đến đánh nhau bị xử phạt như thế nào ?

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về vấn đề xử phạt khi gây khiêu khích với người khác.

Trả lời:

Đối với hành vi cố ý đánh người hay cố ý gây thương tích cho người khác, tùy vào tỷ lệ thương tật của người bị hại để xem xét người này có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không hay chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính.

Theo quy định của điều 104, Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009quy định về tội cố ý gây thương tích:

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân".

Đối với trường hợp này, để đủ khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự, tỷ lệ thương tật của người bi hại sẽ là trên 11%, hoặc dưới 11% nhưng có dùng hung khí nguy hiểm, gây cố tật nhẹ cho nạn nhân... ( tức là có một trong các hành vi quy định tại khoản 1 điều 104 Bộ luật hình sự thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội danh này

Nếu như tỷ lệ thương tật thuộc phạm vi quy định tại khoản 1 điều 104 thì việc khởi tố vụ án hay không khởi tố vụ án phụ thuộc vào yêu cầu của người bị hại. Nếu người bị hại rút đơn bãi nại, vụ án sẽ được đình chỉ nhưng chỉ áp dụng đối với hành vi vi phạm tại khoản 1, còn đối với khoản 2, 3, 4 điều 104 Bộ luật hình sự thì khởi tố sẽ không phụ thuộc vào yêu cầu của người bị hại mà phụ thuộc vào quyết định của cơ quan công an.

Nếu như chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị xử phạt vi phạm hình chính theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình:

"Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau";

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Thứ hai : Liên quan đến vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Theo quy định tại điều 609 Bộ luật dân sự 2005 có quy định về bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm thiệt hại sức khỏe cho người khác.

"Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định".

Thưa luật sư, xin hỏi: Đánh chắn bị bắt. Chường hợp của em là như thế này anh chị em cho e . Về mức độ như thế nào có bị ngồi tù không. Năm 2012 .em có bị bắt về tội đánh chắn bị ra tòa sử phạt hành chính 10 triệu em đốn làm máy lần .con 3200 nghìn . Đợt tháng 12 năm 2015 e đánh chắn bị bát quả tang 3 người nhung e chạy thoát . Và trong só đó có 1 người vẫn bị tạm giam chưa được that .và bị bắt chên chiếu bạc và chên nguòi lập biên bạn là số tiên là 2.200.000 d .em hỏi anh chị luật sư về chường hợp của em nhu vậy thị .cos thể bị kết án như thế nào mong anh chị đọc và giúp đỡ em về trường hợp của em nhu thế nào để giải đáp nhũng thác mác của e .cảm ơn anh chị

Trong trường hợp này, số tiền thu được tại chiếu bạc là hơn hai triệu đồng, theo quy định tại khoản 1 điều 248 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

"Điều 248. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá từ hai triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 249 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Phải làm thế nào khi bố đánh đập mẹ ? Xử lý hành vi bạo lực gia đình như thế nào ?

4. Đánh nhau có sử dụng dao thì vi phạm tội gì ?

Kính chào Luật sư! Tôi có một sự việc muốn hỏi Luật sư về cách thức xử lý. Một thanh niên tên T cùng bạn là N và một số người khác vào quán bà A uống nước, trong quán có H, K, L đang chơi bi-a, N đi vào xin cơ thì T đi theo phá bi trên bàn không cho đánh, T và H chửi nhau rồi xông vào đánh nhau. Sau đó T bỏ chạy về nhà, H cầm gạch đuổi theo đáp nhưng không trúng, H đuổi 1 đoạn rồi quay lại lấy xe máy đi về nhà cầm dao quắm và bình xịt tóc rồi quay lại quán bà A.
T cũng về nhà cầm dao và gậy nhưng được mọi người can ngăn giằng lại. B (phó công an xã) là anh vợ của T mặc quần áo thường đi qua thấy vậy đến quán bà A hỏi, B gọi điện thoại báo cáo trưởng CA xã. H đi xe máy đến quán thấy B thì chửi ‘’thằng B phó công an xã mày gọi công an huyện xuống bắt tao ah" rồi chỉ thẳng dao vào mặt B. B chạy ra bàn bi-a rút súng côn bắn chỉ thiên thì H bỏ dao xuống, nhưng H lại rút bình xịt tóc ra xịt về phía B rồi bỏ đi. Sau xô xát không ai bị thương và không bị hư hỏng tài sản gì cả. Hỏi T và H bị xử lý ra sao?
Xin cảm ơn Luật sư!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự gọi : 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp, T và H đã vi phạm quy định về trật tự công cộng.

Nghị định 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định như sau:

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;
b) Gây mất trật tự ở rạp hát, rạp chiếu phim, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, lễ hội, triển lãm, hội chợ, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên đường phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng hoặc ở nơi công cộng khác;
c) Thả rông động vật nuôi trong thành phố, thị xã hoặc nơi công cộng.
2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;
b) Báo thông tin giả đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
c) Say rượu, bia gây mất trật tự công cộng;
d) Ném gạch, đất, đá, cát hoặc bất cứ vật gì khác vào nhà, vào phương tiện giao thông, vào người, đồ vật, tài sản của người khác;
đ) Tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng;
e) Để động vật nuôi gây thiệt hại tài sản cho người khác;
g) Thả diều, bóng bay, chơi máy bay, đĩa bay có điều khiển từ xa hoặc các vật bay khác ở khu vực sân bay, khu vực cấm; đốt và thả “đèn trời”;
h) Sách nhiễu, gây phiền hà cho người khác khi bốc vác, chuyên chở, giữ hành lý ở các bến tàu, bến xe, sân bay, bến cảng, ga đường sắt và nơi công cộng khác.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác;
b) Lôi kéo hoặc kích động người khác gây rối, làm mất trật tự công cộng;
c) Thuê hoặc lôi kéo người khác đánh nhau;
d) Gây rối trật tự tại phiên tòa, nơi thi hành án hoặc có hành vi khác gây trở ngại cho hoạt động xét xử, thi hành án;
đ) Gây rối trật tự tại nơi tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế;
e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;
g) Lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng để lôi kéo, kích động người khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;
h) Gây rối hoặc cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức;
i) Tập trung đông người trái pháp luật tại nơi công cộng hoặc các địa điểm, khu vực cấm;
k) Tổ chức, tạo điều kiện cho người khác kết hôn với người nước ngoài trái với thuần phong mỹ tục hoặc trái với quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
l) Viết, phát tán, lưu hành tài liệu có nội dung xuyên tạc bịa đặt, vu cáo làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức, cá nhân;
m) Tàng trữ, vận chuyển “đèn trời”.

Như vậy, T đã vi phạm quy định tại điểm a Khoản 1 và điểm a Khoản 2 về vì có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác và đánh nhau. Theo đó, T sẽ bị xử phạt hành chính từ 600.000đ đến 1.300.000đ cho cả 2 tội trên.

Còn H đã vi phạm quy định tại điểm a Khoản 1, điểm a Khoản 2 và điểm a Khoản 3, ngoài 2 tội như của T, H còn bị phạt thêm tội do tàng trữ dao với mục đích cố ý gây thương tích. Do đó H sẽ bị phạt từ 2.600.000đ đến 4.300.000đ cho 3 tội kể trên.

Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.6162.

>> Xem thêm:  Nên làm gì khi bị người khác đánh đập ? Bố mẹ đánh con có bị xử phạt không ?

5. Tư vấn xử lý trường hợp đánh nhau theo quy định pháp luật ?

Chào luật minh khuê, Em muốn bên luật sư giải đáp một số câu hỏi: Bạn của chồng Em bị bên B đánh. Sau đó, bên B đó có quen biết chồng Em. Nên người Em đó nhờ chồng em đến nói chuyện.
Khi đến quán chồng e đi người không và chỉ để nói chuyện. Không mang theo bất cứ vật gì, khi tới nói chuyện bên kia nói sấc náo chồng em có đánh một bạt tai, bên B điện người tới và mang dao , kiếm từ trong quán ra chém tới tấp chồng em và em của chồng em. Giờ chồng em bị đứt 3 ngón tay phải đi bệnh viện nối gân. E của chồng em bị nứt sọ, và bị vhems rất nhiều nhát vào lưng. Sau khi bị chém chồng em và mấy người em của chồng em bỏ chạy thì họ đuổi theo chém và sau khi đi khỏi đó bên B tự đập quán và tự đập xe. Sau đó họ đi báo công an bên em đập phá. Nhưng bên em không hề đập . Toàn bộ người dân xung quanh làm chứng.
Nhưng bên B muốn kiện chồng e vì tội gây rối chật tụe công cộng. Và công an vào lấy lời khai chồng em nói sẽ cho chồng em đi tù. E băn khoăn không biết chồng em đã gây ra tội gì ?
Mong bên luật sư giải đáp giùm em. E cảm ơn rất nhiều !
Người gửi: BTH

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, nhận định về hành vi của chồng bạn

Căn cứ Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999; Bộ luật hình sự năm 2009 sửa đổi, bổ sung:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Theo đó, với thương tích nghiêm trọng ở chồng bạn cũng như ở người em của bạn thì hoàn toàn đã đủ dâu hiệu hậu quả để bên B phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Bên B đã phạp phải tội cố ý gây thương tích tại Điều 104 BLHS.

Việc phía công an làm việc với chồng bạn vì đã nhận được đơn tố giác của bên B và đang trong quá trình xác minh sự thật và rất có thể họ đang nhầm lẫn về chủ thể thực hiện hành vi phạm tội.

Như vậy, nếu những trình bày của bạn là hoàn toàn đúng thì chồng bạn và người em kia sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự bởi vì họ chính là những người bị hại.

Thứ hai, hướng giải quyết cho tình huống.

Theo tôi, bạn nên xem xét việc kiện ngược lại phía bên B về những hành vi của họ. Cụ thể:

Căn cứ Điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự 2003.

Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:

1. Tố giác của công dân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức;

3. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

4. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;

5. Người phạm tội tự thú.

Như vậy, bạn có thể đến cơ quan công an để tố giác những hành vi của bên B nhằm làm rõ và đảo chiều hướng điều tra của cơ quan Công an. Đồng thời, việc tố giác này còn là căn cứ để phía công an khởi tố 1 vụ án hình sự mới với chủ thể phạm tội ở đây là bên B. Hành vi phạm tội là Cố ý gây thương tích.

Về cách thức thực hiện:

Căn cứ Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

Như vậy, bạn có thể đến các cơ quan trên để thực hiện việc Tố giác của mình. Theo tôi, đây là hướng giải quyết tốt nhất đối với chồng bạn cũng như người em kia.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Đánh trúng mắt người thương tật 15% thì phạm tội gì ? Hành hung người khác bị phạt thế nào ?