1. Đất đang có tranh chấp được hiểu như thế nào?
Theo quy định của Điều 3, Khoản 16 của Luật Đất đai 2024 (chưa có hiệu lực), định nghĩa về "đất đang tranh chấp" được mô tả như sau: "Đất đang tranh chấp" đề cập đến các thửa đất mà hiện đang đối mặt với sự tranh chấp về quyền sở hữu hoặc sử dụng, và đang chờ đợi quá trình giải quyết từ phía cơ quan có thẩm quyền. Trong tình trạng này, đất vẫn chưa có quyết định cuối cùng về việc sở hữu hoặc sử dụng, và đang tiếp tục dưới sự quản lý của cơ quan có thẩm quyền cho đến khi tranh chấp được giải quyết hoàn toàn.
=> Theo quy định của Luật Đất đai 2024, "đất đang có tranh chấp" được hiểu là những khu vực đất đai đang dính phải các tranh chấp về quyền sở hữu hoặc sử dụng, và đang dưới quá trình xem xét và giải quyết từ phía các cơ quan có thẩm quyền. Trong thời gian này, các vấn đề liên quan đến quyền lợi đất đai vẫn chưa được đi đến một quyết định cuối cùng và đang được thẩm quyền địa phương tiếp tục quản lý và xử lý cho đến khi các tranh chấp được giải quyết đầy đủ và công bằng.
2. Đất đang có tranh chấp có được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?
Tại Điều 151 Luật Đất đai 2024 có quy định để rõ ràng hơn về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, Luật đã quy định những trường hợp cụ thể sau đây khi người sử dụng đất không được cấp giấy chứng nhận:
- Trường hợp đất nông nghiệp được sử dụng cho mục đích công ích, như được quy định tại Điều 179 của Luật Đất đai.
- Đất được giao để quản lý theo các điều kiện chỉ định tại Điều 7 của Luật, ngoại trừ các trường hợp đất được giao để sử dụng chung với đất được giao để quản lý. Trong trường hợp này, người sử dụng đất sẽ chỉ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với phần diện tích đất sử dụng theo quyết định giao đất hoặc cho thuê đất từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Đất được thuê hoặc thuê lại từ người sử dụng đất, trừ khi đất này thuộc sở hữu của chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để kinh doanh và phát triển dự án được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận. Trong những trường hợp như vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất phải phù hợp với quy định của pháp luật và theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Đất được cấp theo hình thức nhận khoán, ngoại trừ khi đất này đã được công nhận quyền sử dụng đất theo điều 181, khoản 2, điểm a của Luật Đất đai. Trong các trường hợp khác, người sử dụng đất không được cấp giấy chứng nhận.
- Đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thu hồi, trừ khi quyết định này đã được thực hiện trong khoảng thời gian 03 năm kể từ ngày quyết định được ban hành mà không có bất kỳ hành động thi hành nào. Trong những trường hợp này, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất phải tuân thủ theo quy định của pháp luật.
- Đất đang trong tình trạng tranh chấp hoặc bị kê biên, và đang phải tuân theo các biện pháp khẩn cấp khác để đảm bảo việc thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Đồng thời, quyền sử dụng đất có thể đang chịu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức được giao đất từ Nhà nước mà không phải trả tiền sử dụng đất, nhưng đất này được sử dụng cho mục đích công cộng và không có mục đích kinh doanh.
=> Đất đang mired trong tranh chấp sẽ không được ban hành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản liên quan. Trong tình huống này, việc xác định rõ quyền lợi đất đai đòi hỏi sự giải quyết hòa bình và công bằng của các bên liên quan trước khi bất kỳ văn bản chứng nhận nào có thể được cấp phát.
3. Đất đang có tranh chấp thì khi nào được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?
Điều 142 Luật Đất đai 2024 quy định dựa trên báo cáo về tình trạng sử dụng đất của các tổ chức, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại vùng có đất thường tiến hành kiểm tra thực tế về việc sử dụng đất và thực hiện các biện pháp xử lý theo quy định dưới đây:
- Trong trường hợp phát hiện diện tích đất đang được sử dụng không đúng mục đích, hoặc đất bị lấn chiếm, hoặc đã được cho thuê hoặc mượn sử dụng cho các tổ chức khác, gia đình, hoặc cá nhân, hoặc diện tích đất đã bị sử dụng cho các hoạt động liên doanh, liên kết mà không tuân thủ quy định pháp luật; hoặc đất không được sử dụng trong thời gian quá 12 tháng hoặc tiến độ sử dụng đất chậm chạp đã quá 24 tháng, thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ ra quyết định thu hồi đất theo các quy định của pháp luật.
- Diện tích đất mà tổ chức đã phân bổ cho hộ gia đình và cá nhân, trong đó có cán bộ, công nhân viên của tổ chức để xây dựng nhà ở trước khi Luật này có hiệu lực phải được chuyển giao cho Ủy ban nhân dân cấp huyện tại vùng có đất, để thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật. Người sử dụng đất ở sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất phải tuân thủ các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, hoặc làm muối đã được Nhà nước ủy quyền sử dụng đất và chia sẻ một phần diện tích đất cho hộ gia đình hoặc cá nhân sử dụng làm đất ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, các doanh nghiệp này phải lập một kế hoạch cụ thể để tái bố trí diện tích đất ở thành khu dân cư. Kế hoạch này sẽ được trình bày cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại vùng có đất để được phê duyệt trước khi chuyển giao cho chính quyền địa phương quản lý.
- Quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất đang gặp tranh chấp đòi hỏi phải chờ đến khi mọi vấn đề tranh chấp được giải quyết đầy đủ theo quy định của pháp luật. Đảm bảo tính công bằng và sự rõ ràng trong việc xác định quyền lợi của mỗi bên liên quan trước khi cấp phát bất kỳ văn bản chứng nhận nào. Quy trình này đòi hỏi sự kiên nhẫn và công tâm trong việc đảm bảo tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật.
=> Theo quy định, quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất đang gặp tranh chấp đòi hỏi phải chờ đến khi tất cả các khía cạnh của tranh chấp được giải quyết đầy đủ và chính xác theo quy định của pháp luật. Đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc xác định quyền lợi của từng bên liên quan trước khi cấp phát bất kỳ văn bản chứng nhận nào. Quy trình này là cơ sở cho sự tin cậy và công tâm trong quản lý tài sản đất đai.
Chú ý: Luật Đất đai 2024 sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2025, tuy nhiên, có một số trường hợp đặc biệt được miễn khỏi ngày này như sau:
+ Điều 190 và Điều 248 của Luật Đất đai 2024 sẽ có hiệu lực thi hành sớm hơn, từ ngày 01/4/2024, nhằm đảm bảo rằng các quy định quan trọng về vấn đề này được triển khai kịp thời.
+ Công tác lập và phê duyệt quy hoạch sử dụng đất vẫn sẽ tiếp tục tuân thủ theo quy định của Nghị quyết 61/2022/QH15, nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách và pháp luật về quy hoạch. Nhấn mạnh sự quan trọng của việc loại bỏ các rào cản, khó khăn, từ đó đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng quy hoạch trong giai đoạn 2021 - 2030.
+ Khoản 9 của Điều 60 Luật Đất đai 2024 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày mà Nghị quyết 61/2022/QH15 hết hiệu lực, một biện pháp có thể hiểu là để đảm bảo sự liên kết và tuân thủ giữa các quy định pháp luật liên quan.
Ngoài ra, có thể tham khảo: Đất đang có tranh chấp làm thủ tục mua bán được không? Hướng giải quyết tranh chấp đất đai. Còn khúc mắc, liên hệ 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Xin cảm ơn.