A. Đề thi vào 10 Văn Thành phố Hồ Chí Minh
Câu 1:
Em hãy đọc bức thư sau:
Em thương mến!
nghĩ suy về cuộc sống xung quanh và về những người thân yêu. Thế nhưng đôi khi vì e ngại, em giấu kín những tâm tư của mình; vì sợ hãi, em âm thầm chôn sâu những ước muốn riêng tư; vì chưa đánh giá đúng ý nghĩa của lời nói em thờ ơ với việc tỏ bày. Để rồi bao nhiêu tình cảm tốt đẹp vụt qua tầm tay. Để rồi nỗi niềm tích tụ ngày một nhiều làm cho tâm hồn nặng trĩu; cuộc sống bớt đi những sắc màu tươi sáng.
Em biết chăng có những lúc tâm tư cần được thể hiện, ước muốn cần được thổ lộ, tình cảm cần được bộc bạch? Nhiều khi suy nghĩ được cất lên thành lời sẽ mang đến sự chia sẻ, cảm thông; sẽ tạo thành mối dây liên kết giữa người với người; sẽ giúp lan truyền những điều tích cực, đẹp đẽ.
Đó là khi bác sĩ Đặng Thùy Trâm khẳng định trách nhiệm của tuổi trẻ đối với đất nước trong Nhật kí của mình:
Mình cũng như những thanh niên khác đã lên đường ra tiền tuyến, và tuổi trẻ qua đi giữa tiếng bom rơi đạn nổ. Tuổi trẻ của mình đã thấm đượm mồ hôi, nước mắt, máu xương của những người đang sống và những người đã chết. Tuổi trẻ của mình đã cứng cáp trong thử thách gian lao của chiến trường, tuổi trẻ của mình cũng đã nóng rực vì ngọn lửa căm thù đang ngày đêm hun đốt.
Đó là khi nhà thơ Lưu Quang Vũ day dứt vì những lỗi lầm ngày thơ bé trong bài thơ Gửi mẹ:
Mẹ ơi nếu con được sống lại tuổi thơ
Con sẽ chẳng bao giờ mải chơi trốn học
Đứa con trai nhiều lỗi lầm ương ngạnh
Sẽ không lần nào làm mẹ xót xa
Đó là khi triết gia nhỏ xinh Bao Nakashima chia sẻ về sự độc đáo của bản thân trong tác phẩm Mắt kính không vướng bụi:
Tớ không trở thành ai khác
Không ai khác có thể trở thành tớ.
Em hãy nhớ rằng không phải suy nghĩ nào cũng cần cất lên thành lời nhưng có những suy nghĩ nhất định phải nói ra. Để bày tỏ cảm xúc. Để giải tỏa tâm trạng. Để bộc lộ cái tôi riêng biệt của bản thân. Để hiểu nhau và thương nhau nhiều hơn.
Luôn có những người chờ đợi để được lắng nghe em.
Cô giáo của em
Thực hiện các yêu cầu:
a) Dựa vào bức thư, hãy chỉ ra ít nhất hai lợi ích của việc để những nghĩ suy cất lên thành lời (0,5 điểm).
b) Tìm một thành phần biệt lập trong đoạn thơ của Lưu Quang Vũ (0,5 điểm)
c) Lời chia sẻ của bác sĩ Đặng Thùy Trâm giúp em hiểu gì về tuổi trẻ Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh? (1,0 điểm)
d) Em có thích suy nghĩ của triết gia nhỏ xinh Bao Nakashima: Tớ không trở thành ai khác/Không ai khác có thể trở thành tớ? Vì sao? Trả lời trong khoảng 4-6 dòng (1,0 điểm).
Câu 2:
Trên đường đời một lần tôi vấp ngã
Có cánh tay nâng đỡ giúp tôi ngồi
Tôi xuýt xoa. Quên cảm ơn. Là lúc
Ngẩng mặt lên Người ấy đã đi rồi
(Lê Minh Quốc, Từng ngày ba mẹ thở theo con, NXB Kim Đồng 2022)
Từ ý thơ trên và những trải nghiệm cuộc sống, hãy viết bài văn khoảng 500 chữ với nhan đề: “Nếu những suy nghĩ tốt đẹp không được cất lên thành lời”…
Câu 3: (4 điểm)
Học sinh được chọn 1 trong hai đề sau:
Đề 1
Em hãy viết một bài văn nghị luận về một bài thơ hoặc một đoạn thơ khiến em suy nghĩ về tình yêu đất nước của con người Việt Nam và muốn cất lên những lời ngợi ca tình yêu ấy. Từ đó cho biết tác động của khổ thơ hoặc đoạn thơ đó đối với em.
Đề 2
Câu lạc bộ Lớn lên cùng sách
Thông báo
Chủ đề sinh hoạt tháng 6
Các bạn hãy gửi bài viết về câu lạc bộ theo yêu cầu sau:
-Chọn một tác phẩm hoặc đoạn trích viết về đề tài tình cảm gia đình.
-Viết một bài văn nghị luận trình bày những suy nghĩ của bạn về tình cảm gia đình trong tác phẩm hoặc đoạn trích ấy. Qua đó chia sẻ đôi điều về cách bạn trò chuyện và thấu hiểu (cách đọc) đoạn trích hoặc tác phẩm mà bạn đã chọn.
Hạn cuối nộp bài 10h ngày 6/6/2023
ĐÁP ÁN ĐỀ THI VĂN 10 TP.HCM 2023
Câu 1:
a. Hai lợi ích của việc để những nghĩ suy cất lên thành lời là:
+ Mang đến sự chia sẻ cảm thông;
+ Tạo thành mối dây liên kết giữa người với người.
b. Thành phần biệt lập trong đoạn thơ của Lưu Quang Vũ:
+ Thành phần biệt lập gọi đáp "Mẹ ơi".
c. Từ nội dung đoạn trích trong cuốn Nhật kí của bác sĩ Đặng Thùy Trâm, học sinh rút ra được những hiểu biết về tuổi trẻ Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh.
+ Đó là những thanh niên và cô gái sẵn sàng bước ra khỏi mái trường, lắng nghe tiếng gọi thiêng liêng của trái tim dân tộc, để góp phần bảo vệ Tổ quốc. Họ không ngần ngại đối mặt với nguy hiểm, bất kể gian khổ hay rủi ro, để sống và hy vọng theo đuổi lý tưởng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
+ Đó là thế hệ trẻ không quên, họ đã chứng kiến, hiểu rõ và biết ơn những hy sinh không hề nhỏ của những người tiền bối. Sự hy sinh ấy đã thổi thêm lửa nhiệt huyết, truyền động lực cho họ tiếp tục con đường gian nan, nhưng vẫn quyết tâm bảo vệ và xây dựng Tổ quốc hùng mạnh.
+ Đó cũng là tuổi trẻ mạnh mẽ, dũng cảm, và quả cảm. Bản lĩnh của họ không chỉ đến từ sự rèn giũa trong ngọn lửa chiến tranh, mà còn từ lòng trung thành sâu sắc với quê hương, từ ý chí bất khuất để đối diện và vượt qua mọi thử thách.
d. Triết gia nhỏ xinh Bao Nakashima đưa ra một quan điểm đầy sâu sắc: "Tớ không trở thành ai khác/ Không ai khác có thể trở thành tớ." Điều này mở ra nhiều góc nhìn và thách thức cho thí sinh khi phải đưa ra quan điểm cá nhân về câu nói này.
Có thể một số thí sinh thích quan điểm này bởi nó thể hiện sự tự chủ, cá nhân hóa, và giữ vững bản nguyên của bản thân. Bao Nakashima vẫn giữ vững "tớ," không bị đánh đổi hoặc mất đi tính cách riêng, điều này có thể thúc đẩy ý thức về sự độc lập và tự giác trong quá trình xây dựng cá nhân.
Câu 2:
* Giải thích:
- Giải thích ý thơ: Cuộc sống có những biến cố và khi chúng ta vấp ngã sẽ nhận được sự giúp đỡ của những người xung quanh.
- Vấn đề cần bàn luận: Nếu những suy nghĩ tốt đẹp không được cất lên thành lời thì sẽ tạo nên sự nuối tiếc, còn ngược lại, nó sẽ là nền tảng cho tình yêu thương, sự gắn kết giữa người với người.
* Bàn luận:
- Sự đẹp đẽ của những suy nghĩ tốt không chỉ dừng lại ở việc biểu lộ lòng biết ơn, mà còn nằm ở khả năng lan tỏa và chia sẻ niềm vui, giúp đỡ mà mình nhận được cho những người khác. Khi chúng ta không chỉ giữ những hành động tốt cho riêng mình mà còn truyền tải chúng đến với cộng đồng xung quanh, chúng ta đang tạo nên một chuỗi tích cực, lan tỏa sự lạc quan và lòng tốt đẹp.
- Việc biểu đạt những suy nghĩ và tình cảm tốt đẹp thông qua lời nói, hành động, hay thậm chí cả cử chỉ non nớt, giúp chúng ta không chỉ thể hiện được bản thân mình mà còn tạo ra sự kết nối và hiểu biết sâu hơn giữa mọi người. Khi chúng ta không thể biểu đạt những suy nghĩ tốt đẹp thành lời, tình cảm tốt đẹp thành hành động, cuộc sống có thể trở nên mờ nhạt và trống rỗng hơn. Việc chia sẻ, thể hiện lòng biết ơn và tình cảm tốt đẹp không chỉ làm cho chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng và hạnh phúc hơn mà còn tạo ra một môi trường giao tiếp tích cực và gần gũi hơn.
- Để biến những suy nghĩ tốt thành lời nói, đầu tiên là cần phải nhìn nhận và ước lượng cao những đóng góp, sự hỗ trợ từ người khác. Khi nhận ra điều này, việc biến suy nghĩ thành lời sẽ dễ dàng hơn. Để cất lên thành lời, cần phải tỏ lòng biết ơn đúng lúc, đúng thời điểm để người giúp đỡ cảm nhận được lòng biết ơn của mình. Việc này không chỉ là việc lịch sự mà còn thể hiện sự tôn trọng và quan tâm đến người khác.
* Dẫn chứng:
- Lời cảm ơn sau khi nhận được sự giúp đỡ từ những người xung quanh mình: bác bảo vệ, cô bán nước, người bạn...
- Hoạt động tri ân, tưởng niệm những anh hùng liệt sĩ, những người công với đất nước, dân tộc...
- Lắng nghe những ý tưởng khởi nghiệp và sẵn sàng ủng hộ khi thấy phù hợp: đổi giấy, quần áo cũ lấy cây xanh; túi làm từ các vật liệu tái chế...
* Mở rộng vấn đề:
- Bày tỏ thái độ không đồng tình với những quan niệm, hành động sai lầm: những người ích kỉ, vô cảm, không biết sẻ chia và cảm thông; không biết nói lời cảm ơn;...
* Bài học và nhận thức:
- Hiểu được vai trò, giá trị của việc sẻ chia những điều tốt đẹp, tích cực trong cuộc sống.
- Lan truyền những tấm gương người tốt, việc tốt tới những người xung quanh để rút ra được bài học đúng đắn trong cách hành động và ứng xử.
- Nên bày tỏ, bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc chân thành để mọi người cảm nhận được những điều tốt đẹp mình muốn lan tỏa.
Câu 3:
Đề 1:
1. Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm:
- Tác giả: Phạm Tiến Duật (1941-2007), quê ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Những bài thơ của Phạm Tiến Duật thường mang đậm tinh thần đồng lòng, sự quyết tâm và niềm tự hào của thanh niên thời bấy giờ. Ông thường sử dụng ngôn từ sinh động, hình ảnh sắc nét để mô tả những tình huống, cảnh vật và cảm xúc của những người lính, thanh niên xung phong trên con đường quan trọng như Trường Sơn.
- Khổ thơ trích trong bài "Bài thơ về tiểu đội xe không kính", bài thơ được viết năm 1969, thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt trên con đường chiến lược Trường Sơn.
+ Xuất xứ: bài thơ được in trong tập thơ "Vầng trăng quầng lửa".
+ Khái quát: Những chiếc xe không kính trở thành biểu tượng đặc trưng của những người lính lái xe ở tuyến đường Trường Sơn trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Hình ảnh này thường được miêu tả với sự độc đáo và tính biểu tượng cao, thể hiện tinh thần dũng cảm và sự kiên trì không ngừng của những người lính.
2. Phân tích khổ thơ
- Khổ thơ trong tác phẩm tạo ra sự đối lập mạnh mẽ giữa hai khía cạnh quan trọng: vật chất và tinh thần, vẻ bề ngoài và bên trong của chiếc xe. Sự đối lập này thể hiện rõ qua hình ảnh của những chiếc xe ban đầu không có kính, nhưng sau những trận mưa bom bão đạn, chúng bị bom Mỹ làm biến dạng đến mức trần trụi.
a. Hai câu thơ đầu: Hiện thực tàn khốc của chiến tranh
- Biện pháp liệt kê những điểm không hoàn thiện của chiếc xe: không có kính, rồi xe không có đèn, không có mui xe, thùng xe có xước.
- Điệp ngữ "không có" được nhắc lại ba lần.
→ Sự thiếu thốn, biến dạng đến mức trần trụi của những chiếc xe không chỉ là biểu tượng cho sự tổn thương vật chất mà còn là biểu hiện của sự tàn phá, đau thương và tinh thần chiến đấu không ngừng của những người lính phải trải qua những thời kỳ khốc liệt, gian khổ trên chiến trường.
b. Hai câu thơ sau: Ý chí chiến đấu vì giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước:
- Mặc dù bị hủy hoại, biến dạng đến mức trần trụi, sự chuyển động của những chiếc xe không kính vẫn tiếp tục, vẫn băng băng ra chiến trường. Họ trở thành biểu tượng cho sự kiên trì, sự bền bỉ và ý chí chiến đấu không ngừng.
- Tác giả lí giải bất ngờ và lí trí: "Chỉ cần trong xe có một trái tim".
+ Hình ảnh hoán dụ: lấy hình ảnh trái tim để chỉ người lính.
+ Đối lập với tất cả những cái "không có" ở trên là một cái "có". Một bên là hiện thực khốc liệt, một bên là sức mạnh ý chí, tình yêu nước, niềm tin, niềm hi vọng vào thắng lợi.
+ Đó không chỉ là sự ngoan cường, dũng cảm vượt lên trên mọi gian khổ ác liệt mà còn là sức mạnh của tình yêu nước.
→ Hình ảnh về trái tim thường mang đậm tinh thần biểu tượng và tâm linh, và nó có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự kết nối cảm xúc và sâu lắng trong lòng người đọc.
* Tiểu kết về nội dung và nghệ thuật.
3. Liên hệ bản thân
- Tâm hồn và ý chí chiến đấu mạnh mẽ của thanh niên thời bấy giờ, khi họ hy sinh, kiên cường đối mặt với gian khổ và nguy hiểm của cuộc chiến, để lại một di sản vô giá không thể nào quên được. Họ trở thành biểu tượng cho sự quyết tâm, lòng dũng cảm và tình yêu quê hương, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử và tâm hồn của dân tộc.
- Tinh thần hy sinh, quyết tâm bảo vệ đất nước đã truyền cảm hứng và là động lực lớn để chúng ta sống cống hiến, sống có trách nhiệm với gia đình, quê hương và đất nước. Nó là nguồn động viên, là bài học sống, khắc sâu trong lòng mỗi người Việt, khuyến khích họ hành động vì mục tiêu chung, vì sự thịnh vượng và tự do của đất nước.
Tinh thần này cũng góp phần xây dựng một xã hội với lòng yêu nước, trách nhiệm và sự đoàn kết. Nó thúc đẩy mọi người thấu hiểu giá trị của sự hy sinh và cống hiến, đồng thời tạo ra một tinh thần đoàn kết, sẵn sàng hỗ trợ lẫn nhau để xây dựng một tương lai tươi sáng cho đất nước.
- Biểu hiện: thể hiện bằng hành động cụ thể (nỗ lực học tập, rèn luyện để trở thành con người đủ sức, đủ tài; lao động tích cực; dũng cảm đấu tranh chống lại cái ác, cái xấu;...).
4. Tổng kết
- Khái quát lại tinh thần yêu nước được thể hiện trong khổ thơ.
- Khẳng định và kêu gọi lòng yêu nước của mỗi công dân Việt Nam.
Đề 2:
1. Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm
- Tác giả: Nguyễn Quang Sáng (1932 - 2014), quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Các sáng tác của ông hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hòa bình.
- Tác phẩm: truyện ngắn Chiếc lược ngà
+ Hoàn cảnh sáng tác: được viết năm 1966 (khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ) và được đưa vào tập truyện cùng tên.
+ Khái quát: tình huống truyện bất ngờ mà hợp tự nhiên, đoạn trích đã thể hiện tình cha con sâu đậm và cao đẹp trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt.
2. Cảm nhận về tình cha con trong văn bản Chiếc lược ngà
a. Tình cảm ông Sáu: tình cha ấm áp, sâu đậm
- Khi chia tay, ông Sáu rất lưu luyến, muốn "ôm con, hôn con" nhưng sợ con "giãy lên", "bỏ chạy" nên ông đành đứng nhìn.
- Khi bé Thu nhận cha, ông Sáu "không ghìm được xúc động", một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt. Chi tiết giọt nước mắt là một chi tiết tiêu biểu:
+ Hình ảnh của giọt nước mắt hạnh phúc trên gương mặt người cha, nỗi đau được xoa dịu và sức mạnh của tình thương gia đình đầy phép màu đã tạo ra một bức tranh cảm xúc đậm đà và sâu lắng. Đó là giọt nước mắt không chỉ mang trong đó hạnh phúc vì sự yêu thương, quan tâm của con, mà còn là kết quả của những vết thương lòng từng tồn tại. Sự hiện diện của bé Thu, cách cô bé gọi "Ba", là điều khiến trái tim người cha tan chảy, mang lại niềm vui, làm dịu đi nỗi đau và góp phần hàn gắn những vết thương trong lòng ông.
+ Hình ảnh giọt nước mắt hạnh phúc trên gương mặt của ông Sáu thể hiện sự giàu có về tình yêu thương và lòng nhân ái sâu sắc của ông. Dù ông đã trải qua những thử thách và mất mát khốc liệt trong hai cuộc chiến, sự cứng cỏi của người lính ấy không thể chống lại được cảm xúc của mình khi đối diện với những người thân yêu. Hình ảnh này tạo ra một sự động lòng, thấm đẫm và khơi gợi lòng người, cho thấy sức mạnh của tình thương trong tâm hồn người lính, và cũng là một minh chứng cho ý chí sống và hy vọng về tương lai.
- Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn tất cả tình thương và mong nhớ đứa con vào việc làm cây lược ngà để tặng con: Bức tranh về việc ông Sáu dành tất cả tình thương và sự mong nhớ cho đứa con thông qua việc làm cây lược ngà là một hình ảnh đẹp và ý nghĩa. Việc anh ta tự tay làm cây lược từng chiếc răng một, với sự thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc, tạo ra một hình ảnh của sự hy sinh, tình yêu thương và lòng quan tâm chân thành. Từ những hành động nhỏ như làm cây lược, ông Sáu không chỉ tặng cho đứa con một vật phẩm có giá trị mà còn truyền đạt những giá trị tốt đẹp, sự chân thành và tình yêu thương mà ông muốn gửi gắm. Đó là một biểu tượng không chỉ đẹp về mặt nghệ thuật mà còn mang trong mình những giá trị tinh thần và tình cảm sâu sắc.
→ cây lược ngà không chỉ đơn thuần là một vật phẩm, mà còn là biểu tượng tuyệt vời cho tình cảm phụ tử sâu sắc và tình thương thân thiết. Sự mộc mạc và đằm thắm của nó thể hiện trong cách ông Sáu dành tâm huyết để tạo ra từng chi tiết của cây lược.
b. Tình cảm bé Thu: tình con trong sáng, mãnh liệt
- Trong giờ phút chia tay, "đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao". Hình ảnh của đôi mắt thu hút sự chú ý đặc biệt với nhiều tầng ý nghĩa và cảm xúc phức tạp. Có thể thấy rằng đôi mắt này không chỉ gợi lên nỗi niềm man mác, sâu lắng và khó diễn tả, mà còn bộc lộ nỗi ân hận của Thu vì những hành động chưa đúng với ba.
→ Tất cả nỗi niềm ẩn giấu nơi đôi mắt của bé Thu chính là những biểu hiện sống động cho tình cha con sâu đậm. Đôi mắt của bé Thu là một biểu tượng tinh tế, thể hiện tình yêu thương chân thành, lòng biết ơn và kính trọng đối với người cha, cũng như là nơi gửi gắm những ước mơ, hy vọng và lo lắng trong cuộc sống.
- Khi Thu "thét lên": "Ba...a...a...ba!", đây chính là lúc tình cha con trỗi dậy, sáng rực. Tiếng gọi "ba" thân thương mà Thu đã kìm nén trong lòng bấy lâu giữa những thăng trầm cuộc đời, là biểu hiện của tình cảm mà nó không từng thể hiện trước đây. Điều này tạo nên một cảm xúc cực kỳ bất ngờ và xúc động khi nó cuối cùng có thể thốt ra tiếng gọi đó. Sự thiết tha và cảm động của tiếng gọi "ba" thể hiện rõ sự xúc động của Thu khi lời kêu gọi này không chỉ đơn thuần là một từ ngữ, mà còn là biểu hiện của cả một cảm xúc, một khao khát từ lâu bị kìm nén.
- Hành động "Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của bá nó" như một lời xin lỗi, như một cách bày tỏ tình yêu thương vô bờ, sự kính trọng dành cho ba.
*Tiểu kết về tình cha con ông Sáu trong văn bản Chiếc lược ngà.
3. Liên hệ với bản thân
- Xác định vấn đề: cách bạn trò chuyện và thấu hiểu về tác phẩm Chiếc lược ngà.
- Chia sẻ cách đọc của bản thân về tác phẩm Chiếc lược ngà:
+ Đầu tiên, đọc và cảm nhận tình cảm cha con ông Sáu được thể hiện qua tác phẩm
+ Tiếp theo, tìm hiểu về hoàn cảnh sáng tác, liên hệ với hoàn cảnh thực của đất nước: Chiếc lược ngà viết năm 1966, tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ
+ Cuối cùng, đặt tình phụ tử đó vào hoàn cảnh chia li trong chiến tranh để thấu hiểu sự sâu sắc, thiêng liêng của tình cảm này, đồng thời thấy được sự tàn khốc, ác liệt của chiến tranh.
+ Từ nội dung tác phẩm, liên hệ và nhìn nhận về cuộc sống xung quanh, về tình cha con, tình cảm gia đình và tình yêu đất nước; lòng biết ơn dành cho sự hi sinh của những thế hệ đi trước trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc.
B. Đề thi vào 10 Văn tỉnh Bạc Liêu 2023 - 2024
>>> Tải về: Đề thi vào 10 Văn tỉnh Bạc Liêu 2023 có đáp án
C. Đề thi vào 10 Văn tỉnh Bình Dương 2023 - 2024
>>> Tải về: Đề thi vào 10 Văn tỉnh Bình Dương 2023 có đáp án
D. Đề thi vào 10 Văn tỉnh Hải Dương 2023 - 2024
>>> Tải về: Đề thi vào 10 Văn tỉnh Hải Dương 2023 có đáp án
Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê, hy vọng bài viết trên đã mang đến cho bạn thông tin và đáp án mà bạn đang cần tìm. Xem thêm: Các bài văn nghị luận xã hội lớp 9 ôn thi vào 10 chọn lọc hay nhất. Xin trân trọng cảm ơn!