1. Giới thiệu

Từ quan điểm của đồng chí Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Trưởng Ban soạn thảo và các thành viên Ban soạn thảo về kiên quyết khắc phục những hạn chế trong cơ chế tố tụng hiện hành, kiên trì đổi mới nhằm tạo sự chuyển biến tích cực trong lĩnh vực tư pháp hình sự, qua quá trình làm việc tận tụy của các thành viên Tổ biên tập, quá trình thẩm định kỹ lưỡng của ủy ban tư pháp của Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội, tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội chuyên trách, sự đóng góp của giới luật sư và ủng hộ của dư luận xã hội, các cơ quan báo chí, truyền thông, có thể khẳng định Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã có một bước chuyển cơ bản về chế định bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại, đương sự.

2. Người bào chữa là gì?

Trong một vụ án hình sự, để quyền và lợi ích của người bị buộc tội được bảo vệ cũng như để pháp luật được áp dụng một cách chính xác nhất thì người bào chữa là một thành phần tố tụng không thể thiếu. Người bào chữa là người bảo vệ quyền, lợi ích cho người bị buộc tội trong quá trình tố tụng hình sự. Vai trò của người bào chữa trong vụ án hình sự thể hiện ở các quy định của pháp luật đối với chủ thể này.

Theo Khoản 1 Điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.

Bào chữa là tất cả các hoạt động của người bị buộc tội và người bào chữa từ khi bị buộc tội đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị. Thông qua hành vi cụ thể, họ sử dụng các quyền luật định để làm sáng tỏ những tình tiết chứng minh cho sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như những tình tiết khác có lợi cho người bị buộc tội. Đó có thể là hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng; hoặc đưa ra chứng cứ nhằm làm giảm nhẹ trách nhiệm của người bị buộc tội; hoặc các hành vi tố tụng nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ của người bị buộc tội, kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan tới việc làm giảm trách nhiệm hình sự trong vụ án.

3. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bi hại, đương sự là gì?

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi có yêu cầu của đương sự và được Toà án đồng ý.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự được quy định cụ thể tại Điều 84 Bộ luật tố tụng hình sự số năm 2015, chi tiết như sau: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người được bị hại, đương sự nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

4. Diện chủ thể người bào chữa

Về diện chủ thể người bào chữa, ngoài luật sư và bào chữa viên nhân dân, khoản 2 Điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định hai diện chủ thể mới là “Trợ giúp viên pháp lý’ trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý và “Người đại diện của người bị buộc tội". Trước đây, diện người bào chữa có thể là “người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”, nay được quy định khái niệm rộng hơn là “người đại diện của người bị buộc tội”. Theo Nghị quyết số 05 ngày 08 -12 - 2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quy định một trong những chủ thể có quyền kháng cáo là người đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật) của bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất và người đại diện hợp pháp của người bị hại bao gồm cha, mẹ, vợ và con thành niên. Trong khi đó, khoản 1 và 2 Điều 141 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về người đại diện theo pháp luật bao gồm:

- Cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

- Người giám hộ đối với người được giám hộ.

Đó là chưa kể người đại diện của người bị buộc tội trong trường hợp pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự có thể là người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền.

Khoản 3 Điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 lần đầu tiên làm rõ hơn tiêu chuẩn bào chữa viên nhân dân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, có đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.

5. Diện chủ thể người bảo vệ quyền lợi

Về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, Điều 83 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định chủ thể mới là “người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ, trong đó đáng chú ý là, có quyền có mặt khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và nếu được Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đồng ý thì được hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Sau mỗi lần lấy lời khai của người có thẩm quyền kết thúc thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

6. Thủ tục đăng ký bào chữa

Theo Điều 78 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Trong mọi trường hợp tham gia tố tụng, người bào chữa phải đăng ký bào chữa. Như vậy, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã thay thủ tục cấp Giấy chứng nhận bào chữa bằng thủ tục đăng ký bào chữa: Để việc bào chữa được kịp thời, tránh sự hiểu lầm không cần thiết, BLTTHS năm 2015 đã thay tên gọi “cấp Giấy chứng nhận bào chữa” thành cấp “Giấy đăng ký bào chữa”; đồng thời, đơn giản thủ tục, rút ngắn thời hạn cấp xác nhận tư cách tham gia tố tụng của người bào chữa.

Khi đăng ký bào chữa, người bào chữa phải xuất trình các giấy tờ:

- Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu luật sư của người bị buộc tội hoặc của người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội;

- Người đại diện của người bị buộc tội xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về mối quan hệ của họ với người bị buộc tội;

- Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận;

- Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực.

Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại Điều 76 của Bộ luật TTHS 2015 thì người bào chữa xuất trình các giấy tờ:

- Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử luật sư của tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đó hành nghề hoặc văn bản phân công của Đoàn luật sư đối với luật sư hành nghề là cá nhân;

- Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận;

- Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ nêu trên, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra giấy tờ và thấy không thuộc trường hợp từ chối việc đăng ký bào chữa thì vào sổ đăng ký bào chữa, gửi ngay văn bản thông báo người bào chữa cho người đăng ký bào chữa, cơ sở giam giữ và lưu giấy tờ liên quan đến việc đăng ký bào chữa vào hồ sơ vụ án; nếu xét thấy không đủ điều kiện thì từ chối việc đăng ký bào chữa và phải nêu rõ lý do bằng văn bản.

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng từ chối việc đăng ký bào chữa khi thuộc một trong các trường hợp:

- Trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của Bộ luật TTHS 2015. Khoản 4 Điều 72 quy đinh về những người sau đây không được bào chữa: Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó; Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án mà chưa được xoá án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.

- Người bị buộc tội thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa từ chối người bào chữa.

Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng, trừ các trường hợp:

- Người bị buộc tội từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa;

- Người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa.

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hủy bỏ việc đăng ký bào chữa và thông báo cho người bào chữa, cơ sở giam giữ khi thuộc một trong các trường hợp:

- Khi phát hiện người bào chữa thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của Bộ luật TTHS 2015;

- Vi phạm pháp luật khi tiến hành bào chữa.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tập & Biên tập)