Mục lục bài viết
1. Điều kiện để cán bộ công chức được nâng bậc lương trước hạn khi lập thành tích xuất sắc
Cán bộ công chức có đủ điều kiện sau đây, nếu chưa đạt đến bậc lương cuối cùng trong ngạch hoặc chức danh và tính đến ngày 31/12 của năm xét nâng bậc lương trước thời hạn còn thiếu từ 12 tháng trở xuống để được nâng bậc lương thường xuyên, sẽ được xem xét để nâng một bậc lương trước thời hạn, với thời gian tối đa là 12 tháng, so với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư 08/2013/TT-BNV.
Đối với những cán bộ công chức này, các điều kiện cụ thể bao gồm:
- Đánh Giá và Xếp Loại Chất Lượng: Cần hoàn thành nhiệm vụ với mức độ từ hoàn thành nhiệm vụ trở lên. Chỉ những cán bộ có khả năng làm việc hiệu quả và xuất sắc trong công việc mới được cấp có thẩm quyền để đánh giá và xếp loại chất lượng.
- Tuân Thủ Kỷ Luật: Không được vi phạm kỷ luật, bao gồm một trong các hình thức khiển trách, cảnh cáo, giáng chức, cách chức. Cán bộ cần duy trì tinh thần trách nhiệm và tuân thủ quy tắc nội quy nghiêm túc.
- Thành Tích Xuất Sắc: Cần có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ đã được cấp có thẩm quyền quyết định công nhận bằng văn bản. Những đóng góp nổi bật và hiệu suất làm việc xuất sắc sẽ được đánh giá cao.
Qua việc áp dụng những tiêu chí trên, những cán bộ công chức này sẽ có cơ hội được xét nâng bậc lương trước thời hạn, tạo động lực để họ duy trì và nâng cao chất lượng công việc cũng như tích lũy thành tích trong sự nghiệp của mình.
2. Đối tượng được nâng bậc lương thường xuyên và trước thời hạn
Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Thông tư 08/2013/TT-BNV và khoản 1 Điều 1 Thông tư 03/2021/TT-BNV về đối tượng được nâng bậc lương thường xuyên và trước thời hạn, các đối tượng cụ thể được xác định như sau:
- Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Xếp Lương Theo Bảng Lương Chuyên Gia Cao Cấp, Các Bảng Lương Chuyên Môn, Nghiệp Vụ, Thừa Hành, Phục Vụ:
+ Cán bộ trong các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 204/2004/NĐ-CP.
+ Công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập xếp lương theo các bảng lương chuyên gia cao cấp, bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ, thừa hành, phục vụ (bao gồm cả các chức danh chuyên môn, nghiệp vụ ngành Tòa án, ngành Kiểm sát).
+ Cán bộ cấp xã quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 5 và công chức cấp xã quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP.
- Những người xếp lương theo bảng lương chuyên gia cao vấp, bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ, thừa hành, phục vụ do nhà nước quy định được cấp có thẩm quyền quyết định đến làm việc tại các dự án và các cơ quan, tổ chức quốc tế đặt tại Việt Nam: Bao gồm những người thuộc danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị và được cấp có thẩm quyền quyết định.
- Những người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động:
+ Trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập, việc xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang được thực hiện dựa trên hợp đồng lao động có thỏa thuận giữa người lao động và đơn vị tuyển dụng. Nghị định này đã đề ra các quy định cụ thể về chế độ tiền lương, bảo đảm tính minh bạch, công bằng và đồng đều trong việc đánh giá và xếp lương.
Theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP, cơ sở để xếp lương bao gồm các yếu tố như chức vụ, công việc, trình độ, kinh nghiệm làm việc, thành tích công tác, cũng như đặc điểm của công việc và điều kiện làm việc tại đơn vị. Hợp đồng lao động là công cụ quan trọng để thể hiện sự đồng thuận giữa người lao động và đơn vị sự nghiệp công lập về các điều khoản liên quan đến lương và các quyền lợi khác.
Qua việc áp dụng Nghị định này, cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập được đảm bảo mức lương phù hợp với vai trò, công việc, và đóng góp của họ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Hệ thống xếp lương theo hợp đồng lao động giúp tạo ra một môi trường làm việc tích cực, khuyến khích sự đổi mới và đồng lòng trong cộng đồng làm việc. Đồng thời, nó cũng là cơ hội để người lao động thể hiện và phát triển năng lực cá nhân, đồng thời đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong quản lý nhân sự.
- Những người xếp lương theo bảng lương do nhà nước quy định thuộc chỉ tiêu biên chế có kinh phí tại các hội có tính chất đặc thù:
+ Theo Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ và Quyết định số 68/2010/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định hội có tính chất đặc thù.
Tất cả các đối tượng được nêu tại các Điểm a, b, c và d Khoản này sau đây gọi chung là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.
3. Cách tính số cán bộ công chức thuộc tỷ lệ được nâng bậc lương trước hạn do lập thành tích xuất sắc
Theo quy định mới được sửa đổi tại Thông tư 03/2021/TT-BNV, Khoản 1 Điều 3 Thông tư 08/2013/TT-BNV quy định về việc nâng bậc lương trước thời hạn dựa trên thành tích xuất sắc của cán bộ, công chức, viên chức như sau:
Cứ mỗi 10 người trong danh sách trả lương (không tính số dư ra dưới 10 người sau khi lấy tổng số người trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị chia cho 10), cơ quan, đơn vị sẽ được xác định có 01 người được nâng bậc lương trước thời hạn do lập thành tích xuất sắc. Để thực hiện quy định này, vào quý IV hằng năm, cả cơ quan, đơn vị (kể cả cơ quan, đơn vị có dưới 10 người trong danh sách trả lương) sẽ báo cáo bằng văn bản cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để theo dõi và kiểm tra về số người trong tỷ lệ được nâng bậc lương trước thời hạn của năm sau liền kề và số dư ra dưới 10 người của cơ quan, đơn vị mình.
Cơ quan quản lý cấp trên sẽ căn cứ vào tổng số người trong danh sách trả lương dư ra dưới 10 người (bao gồm cả cơ quan, đơn vị có dưới 10 người trong danh sách trả lương) theo báo cáo của các cơ quan, đơn vị trực thuộc. Dựa trên thông tin này, cơ quan quản lý cấp trên sẽ quyết định số người được cấp có thẩm quyền để tăng thêm trong năm, ưu tiên cho các đơn vị có dưới 10 người trong danh sách trả lương và cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác. Tuy nhiên, tổng số người được nâng bậc lương trước thời hạn không vượt quá 10% tổng số người trong danh sách trả lương tính đến ngày 31/12 của năm xét nâng bậc lương trước thời hạn.
Đến hết quý I của năm sau liền kề với năm xét nâng bậc lương trước thời hạn, nếu cơ quan, đơn vị không thực hiện hết số người trong tỷ lệ được nâng bậc lương trước thời hạn của năm xét nâng bậc lương trước thời hạn (kể cả số người được cơ quan quản lý cấp trên giao thêm, nếu có), thì không được tính vào tỷ lệ nâng bậc lương trước thời hạn do lập thành tích xuất sắc của các năm sau.
Điều này có nghĩa là các cơ quan, đơn vị phải chấp hành đúng quy định về việc thực hiện nâng bậc lương trước thời hạn theo tỷ lệ quy định, đồng thời thực hiện một cách đầy đủ và hiệu quả để đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình xét nâng bậc lương. Nếu không thực hiện hết số người theo tỷ lệ, cơ quan, đơn vị sẽ không được hưởng lợi ích từ chính sách nâng bậc lương trước thời hạn, và điều này nhấn mạnh sự quan trọng của việc duy trì và thực hiện đúng quy trình xét nâng bậc lương để đảm bảo tính công bằng và đồng đều cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong tổ chức
Lưu ý rằng không được thực hiện hai lần liên tiếp nâng bậc lương trước thời hạn do lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ.
Xem thêm bài viết: Trong trường hợp nào được xử lý kỷ luật bằng biện pháp kéo dài thời gian nâng bậc lương ?
Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn pháp luật