1. Doanh nghiệp kiểm toán là gì?

Theo Điều 5 của Luật Kiểm toán độc lập năm 2011, doanh nghiệp kiểm toán là một tổ chức có đủ điều kiện để cung cấp dịch vụ kiểm toán theo quy định của Luật Kiểm toán độc lập năm 2011 và các quy định liên quan của pháp luật. Điều này áp dụng cho các loại doanh nghiệp kiểm toán và chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam theo quy định tại Điều 20 của Luật Kiểm toán độc lập năm 2011, bao gồm:

- Công ty trách nhiệm hữu hạn với ít nhất hai thành viên.

- Công ty hợp danh.

- Doanh nghiệp tư nhân.

Ngoài ra, chi nhánh của doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam được phép cung cấp dịch vụ kiểm toán theo quy định của pháp luật. Nhưng đối với các doanh nghiệp và chi nhánh không đáp ứng đủ điều kiện để kinh doanh dịch vụ kiểm toán, họ không được sử dụng cụm từ "kiểm toán" trong tên gọi của họ. Hơn nữa, doanh nghiệp kiểm toán không được góp vốn để thành lập một doanh nghiệp kiểm toán khác, trừ trường hợp góp vốn với một doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài để thành lập một doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam.

 

2. Điều kiện doanh nghiệp kiểm toán được ủy thác, thuê kiểm toán

Vào ngày 06/10/2023, Kiểm toán Nhà nước đã công bố Quyết định số 1250/QĐ-KTNN, về việc ban hành Quy chế về việc giao ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán để tiến hành kiểm toán.

Theo Điều 9 của Quy chế đi kèm với Quyết định 1250/QĐ-KTNN, các doanh nghiệp kiểm toán được xem xét và chọn lựa để thực hiện ủy thác hoặc thuê kiểm toán cần đáp ứng các điều kiện sau, trừ khi có quy định đặc biệt:

(1) Phải là doanh nghiệp kiểm toán hoạt động hợp pháp và được chấp thuận hiển thị tên trong danh sách công khai của Bộ Tài chính, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (đối với lĩnh vực chứng khoán) hoặc Ngân hàng Thế giới (đối với các dự án được tài trợ bởi Ngân hàng Thế giới).

(2) Không có lịch sử sai phạm bị cơ quan nhà nước hoặc Hội nghề nghiệp về kiểm toán đã xử lý liên quan đến chất lượng kiểm toán trong văm 03 năm liền trước.

(3) Trong 03 năm trước và trong thời gian từ khi bắt đầu kiểm toán đến khi ký hợp đồng ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán:

   - Không thực hiện dịch vụ ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính, dịch vụ kiểm toán, định giá tài sản, tư vấn quản lý hoặc tư vấn tài chính cho khách hàng là đơn vị được kiểm toán theo ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán.

   - Không thực hiện các dịch vụ nêu trên trong nội dung kiểm toán của ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán.

(4) Người quản lý và điều hành của doanh nghiệp kiểm toán không phải là thành viên, cổ đông sáng lập hoặc mua cổ phần, góp vốn vào đơn vị được kiểm toán hoặc có quan hệ kinh tế và tài chính khác với đơn vị được kiểm toán theo các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán và kiểm toán.

(5) Người quản lý, điều hành của doanh nghiệp kiểm toán không được là bố, mẹ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, vợ, chồng, con, anh ruột, chị ruột hoặc em ruột của thành viên, cổ đông sáng lập hoặc mua cổ phần, góp vốn và có ảnh hưởng quan trọng đối với đơn vị được kiểm toán.

(6) Người quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát hoặc kế toán trưởng của doanh nghiệp kiểm toán không thể đồng thời là người góp vốn và có ảnh hưởng quan trọng đối với doanh nghiệp kiểm toán.

(7) Doanh nghiệp kiểm toán và đơn vị được kiểm toán không được cùng sở hữu bởi một cá nhân hoặc doanh nghiệp, tổ chức thành lập hoặc tham gia thành lập.

Quyết định 1250/QĐ-KTNN sẽ có hiệu lực kể từ ngày 06/10/2023.

 

3. Phạm vi uỷ thác hoặc thuê kiểm toán theo Quyết định 1250/QĐ-KTNN

Theo quy định tại Điều 8 của Quy chế, đi kèm với Quyết định 1250/QĐ-KTNN, Kiểm toán Nhà nước có thẩm quyền ủy thác hoặc thuê các doanh nghiệp kiểm toán để tiến hành kiểm toán các cơ quan và tổ chức sau đây:

- Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, và tổ chức xã hội nghề nghiệp mà sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước.

- Các đơn vị sự nghiệp công lập.

- Ban Quản lý dự án đầu tư, bao gồm cả những dự án có nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước hoặc các nguồn tài trợ từ ngân sách nhà nước.

- Doanh nghiệp quản lý và sử dụng tài chính công, cũng như tài sản công.

- Các đơn vị nhận trợ giá hoặc trợ cấp từ Nhà nước, bao gồm cả những đơn vị có công nợ được bảo lãnh bởi Nhà nước, miễn là chúng không thuộc vào danh mục của doanh nghiệp quản lý hoặc sử dụng vốn và tài sản nhà nước.

- Bất kỳ cơ quan hoặc tổ chức nào sử dụng và quản lý tài chính công cũng như tài sản công khác theo quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước.

 

4. Nguyên tắc thực hiện ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán

Cụ thể, việc thực hiện ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán để tiến hành kiểm toán được quy định như sau:

- Chỉ ủy thác hoặc thuê kiểm toán cho các cơ quan và tổ chức nằm trong phạm vi ủy thác hoặc thuê kiểm toán theo quy định tại Điều 8 của Quy chế này.

- Chỉ tiến hành ủy thác hoặc thuê kiểm toán đối với các doanh nghiệp kiểm toán đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 9 của Quy chế này.

- Việc ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán được tiến hành thông qua việc ký kết hợp đồng ủy thác hoặc hợp đồng thuê doanh nghiệp kiểm toán.

- Không được ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán cho việc kiểm toán các nội dung thuộc danh mục bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

- Doanh nghiệp kiểm toán được ủy thác hoặc thuê kiểm toán phải chịu trách nhiệm trước Kiểm toán Nhà nước và trước pháp luật về tính trung thực và tính hợp pháp của dữ liệu, tài liệu, kết luận và đề xuất kiểm toán của họ. Kiểm toán Nhà nước quyết định về việc sử dụng, thực hiện kiểm tra, giám sát và chịu trách nhiệm về tính trung thực của dữ liệu, tài liệu và kết luận, đề xuất kiểm toán do doanh nghiệp kiểm toán thực hiện.

- Doanh nghiệp kiểm toán được ủy thác hoặc thuê kiểm toán phải bảo mật tài liệu, dữ liệu và thông tin về hoạt động của đơn vị được kiểm toán theo quy định của Kiểm toán Nhà nước và quy định của pháp luật.

- Doanh nghiệp kiểm toán được ủy thác hoặc thuê kiểm toán không được ủy thác hoặc thuê bên thứ ba để thực hiện hợp đồng ủy thác hoặc hợp đồng thuê kiểm toán.

5. Trình tự lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán theo Quyết định 1250/QĐ-KTNN

Khi có nhu cầu ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán, Kiểm toán Nhà nước sẽ tiến hành các thủ tục và công bố cơ quan hoặc tổ chức cần được ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán. Quy trình này tuân theo quy định của Luật Đấu thầu. Các doanh nghiệp kiểm toán, nếu đủ điều kiện và có nhu cầu thực hiện ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán, sẽ phải đăng ký với Kiểm toán Nhà nước thông qua Văn phòng Kiểm toán Nhà nước.

Hồ sơ đăng ký cần bao gồm các tài liệu sau:

- Đơn đề nghị về việc ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán.

- Bản sao công chứng của Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (hoặc giấy chứng nhận đầu tư) và Điều lệ của công ty.

- Giấy chứng nhận xác nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán.

- Danh sách các khách hàng đã hợp tác trong 03 năm trước đó và trong khoảng thời gian từ khi kiểm toán được thực hiện đến khi ký hợp đồng ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán.

- Danh sách Kiểm toán viên đã đăng ký và được Bộ Tài chính cấp giấy chứng nhận đăng ký hành nghề còn thời hạn, kèm theo sơ yếu lý lịch, bao gồm tóm tắt quá trình làm việc của kiểm toán viên và giám đốc của doanh nghiệp kiểm toán.

- Các tài liệu khác theo yêu cầu của Kiểm toán Nhà nước.

Dựa trên đối tượng cụ thể và nhu cầu ủy thác hoặc thuê kiểm toán, danh sách các doanh nghiệp kiểm toán nộp hồ sơ hoặc đề xuất, sau đó Hội đồng thẩm định doanh nghiệp kiểm toán sẽ xem xét và đề xuất đến Tổng Kiểm toán Nhà nước các doanh nghiệp kiểm toán đủ điều kiện. Văn phòng Kiểm toán Nhà nước sẽ chủ trì việc phối hợp với Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán cùng với các đơn vị trực thuộc Kiểm toán Nhà nước có nhu cầu ủy thác hoặc thuê kiểm toán để chọn nhà thầu theo quy định của Luật Đấu thầu.

Bài viết liên quan: Kiểm toán độc lập là gì? Đặc trưng của kiểm toán độc lập là gì?

Mọi thắc mắc cần tham vấn về mặt pháp lý vui lòng liên hệ đến số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!