Thưa luật sư, hiện tại tôi đang tìm hiểu về tội phạm tham nhũng. Thực tế nhiều hành vi tham nhũng có cấu thành tội phạm rất gióng nhau. Vậy làm sao để định tội danh chính xác cho các hành vi tham nhũng theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành? Rất mong nhận được tư vấn của luật sư. Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Long Thành - An Giang

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)

- Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018

>> Xem thêm:  Dấu hiệu định tội là gì ? Khái niệm về dấu hiệu định tội ?

2. Tội phạm tham nhũng là gì?

Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đạo luật điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực hình sự hiện hành ở nước ta. Bên cạnh việc quy định những tội phạm “phi truyền thống” mới được quy định thì những tội phạm “truyền thống” tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện. Một trong những tội phạm “truyền thống” trong Bộ luật Hình sự năm 2015 ở đây mà các bạn cần phải lưu tâm là các tội phạm về chức vụ mà điển hình trong đó là các tội phạm tham nhũng.

Các tội phạm tham nhũng của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 được quy định tại Mục 1 Chương XXIII bao gồm 07 Điều luật (từ Điều 353 đến Điều 359).

3. Một số vấn đề về định tội danh đối với hành vi tham nhũng

Qua phân tích các cấu thành tội phạm về tham nhũng cho thấy trong các yếu tố cấu thành của từng tội danh quy định từ Điều 353-359 BLHS có vùng chồng lấn rất lớn, về mặt lý luận việc làm rõ ranh giới của từng tội danh là vấn đề rất cần thiết để tạo cơ sở cho thực tiễn áp dụng pháp luật được thống nhất. Kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và thực tiễn xử lý các tội phạm về tham nhũng, chúng tôi nhận thấy tiêu chí hợp lý nhằm bảo đảm cho việc định tội danh được chính xác bao gồm:

3.1. Định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Từ cấu trúc các tội phạm quy định tại Mục 1 Chương tội phạm về chức vụ có thể xác định có 02 tội danh được xem là có tính chất chiếm đoạt, đó là Tội tham ô tài sản và Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản quy định tại Điểu 353, 355 Bộ luật hình sự năm 2015. Khi thực tế xảy ra vụ việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm hoặc đã chiếm đoạt tài sản, thì có thể khẳng định hành vi sẽ phạm vào một trong hai tội phạm này. Vấn đề tiếp theo trong quá trình định tội là phải làm rõ những đặc điểm giống và khác nhau của hai tội phạm trên.

Thứ nhất, về khách thể bị tội phạm trực tiếp xâm hại là sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức và quan hệ sở hữu.

Đối với Tội tham ô tài sản, thì tài sản bị xâm hại thuộc quyền sở hữu của cơ quan, tổ chức mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý. Còn đối với Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, thì tài sản bị xâm hại có thể thuộc quyền sở hữu của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân và người phạm tội không có trách nhiệm quản lý đối với tài sản trên.

Thứ hai, về chủ thể, mặt chủ quan của hai loại tội phạm quy định tại Điều 353 và 355 đều là chủ thể đặc biệt, người phạm tội phải có chức vụ, quyền hạn thì mới có điều kiện chiếm đoạt tài sản và phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, có mục đích chiếm đoạt.

Thứ ba, về mặt khách quan, sự khác biệt của hai tội phạm này thể hiện ở phương pháp, thủ đoạn và đối tượng mà hành vi phạm tội hướng đến.

>> Xem thêm:  Định tội danh là gì ? Khái niệm về định tội danh

Đối với Tội tham ô tài sản: Người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao như là một phương tiện để thực hiện một cách sai trái với quy định của pháp luật về chế độ quản lý tài chính, tài sản mà mình phụ trách nhằm mục đích chiếm đoạt tài chính, tài sản của cơ quan, tổ chức cho bản thân mình; hành vi chiếm đoạt tài sản có thể thực hiện một cách công khai, có thể bí mật, quá trình thực hiện tội phạm, chủ thể có thể sử dụng thủ đoạn gian dối hoặc không… Thông thường là để che giấu hành vi chiếm đoạt, người phạm tội thường có hành vi sửa chữa sổ sách, chứng từ, lập chứng từ giả; cố ý nâng cao hoặc hạ thấp một cách sai trái giá trị các quyết định, hợp đồng đầu tư, mua bán tài sản; lập khống các hợp đồng, chứng từ liên quan đến thu chi tài chính, mua bán tài sản; tiêu huỷ hoá đơn, chứng từ liên quan đến việc thu chi tài chính; hoặc tạo ra vụ cháy, vụ mất trộm tiền…; các thủ đoạn phạm tội có thể được thực hiện trước, trong hoặc sau khi chủ thể chiếm đoạt được tài sản.

Đối với Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản: Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn biểu hiện thông qua việc người phạm tội đã thực hiện những hành động vượt quá quyền hạn của mình, thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm đoán; hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm để tạo điều kiện thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản…. Thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng chiếm đoạt tài sản rất đa dạng, có thể là thủ đoạn uy hiếp về tinh thần người quản lý tài sản, có thể là thủ đoạn gian dối hoặc lợi dụng sự tin tưởng của người đang quản lý tài sản để chiếm đoạt. Các thủ đoạn trên sở dĩ tạo ra được điều kiện thuận lợi cho việc chiếm đoạt tài sản là nhờ người phạm tội có chức vụ, quyền hạn, nếu không có điều kiện tiền đề thì rất khó thực hiện hành vi thứ hai trên thực tế. Sự lạm dụng chức vụ, quyền hạn phải xảy ra trước hành vi chiếm đoạt và tùy từng lĩnh vực, vị trí công tác khác nhau và trường hợp cụ thể để xác định chủ thể đã có hành vi vượt quá giới hạn thẩm quyền theo luật định nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, đã chiếm đoạt hay nhằm mục đích khác.

3.2. Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để nhận lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất

Bộ luật hình sự quy định về Tội nhận hối lộ tại Điều 354 như sau: “Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ…” và quy định về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi tại Điều 358 là: “Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đòi, nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây dưới mọi hình thức để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được phép làm…” cho thấy, khi chủ thể lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào (vật chất hoặc phi vật chất) thì hành vi đó sẽ phạm vào một trong hai tội phạm này. Tuy nhiên để việc định tội được chính xác thì cần phân tích làm rõ dấu hiệu đặc trưng của hai loại tội phạm quy định tại Điều 354 và 358 Bộ luật hình sự năm 2015.

Thứ nhất, về khách thể bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại là sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Đối với Tội nhận hối lộ thì hành vi còn xâm hại đến hoạt động đúng đắn theo quy định của các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước. Như vậy, khi người công tác trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào để làm hoặc không làm một việc có lợi cho người đưa lợi ích, thì hành vi ấy có dấu hiệu của Tội nhận hối lộ.

Thứ hai, về mặt khách quan của tội phạm:

Hành vi nhận (hoặc sẽ nhận) lợi ích vật chất từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc lợi ích phi vật chất theo quy định của Điều 354 Bộ luật hình sự năm 2015 của người phạm tội là nhằm thực hiện hoạt động công vụ có lợi cho người đưa hối lộ. Hành vi tiếp theo sau khi nhận hoặc thỏa thuận sẽ nhận lợi ích thì người phạm tội sử dụng việc được pháp luật hoặc được phân công thực thi nhiệm để làm hoặc không làm đúng chức trách từ đó mang lại lợi ích cho người đưa hối lộ.

Còn hành vi khách quan mô tả trong Điều 358 là nhận lợi ích rồi sau đó tác động đến người có chức vụ, quyền hạn khác để người này giải quyết công vụ có lợi cho bên cung cấp lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất đó. Hành vi tiếp theo sau khi nhận lợi ích là người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người có trách nhiệm thực thi công vụ, như vậy chủ thể phải có chức vụ, quyền hạn “đủ mạnh”, có thể gây ảnh hưởng đối với người đang thực thi công vụ nhằm làm cho công vụ được thực hiện theo ý chí của người phạm tội; khi chức vụ, quyền hạn của người phạm tội không ngang hàng với người đang thực thi công vụ, vị trí cũng không tương xứng thì việc người phạm tội nhận tiền, lợi ích từ người khác rồi dùng quan hệ quen biết, đồng nghiệp để gây ảnh hưởng làm cho người thực thi công vụ giải quyết công việc theo ý chí của họ, thì cần xem hành vi gây ảnh hưởng trong trường hợp này phạm vào tội danh khác.

Như vậy, điểm khác biệt cơ bản ở mặt khách quan của hai loại tội phạm trên là một bên thì sau khi nhận lợi ích sẽ tác động vào hoạt động của người có trách nhiệm khác, một bên thì trực tiếp thực hiện công việc theo thẩm quyền nhằm làm lợi cho người cung cấp lợi ích cho người phạm tội.

Thứ ba, về chủ thể của hai loại tội phạm đều là chủ thể đặc biệt, người phạm tội phải có chức vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật thì mới có điều kiện để thực hiện tội phạm.

>> Xem thêm:  Hối lộ là gì? Khái niệm hối lộ được hiểu như thế nào ?

Tuy nhiên, chủ thể của tội phạm quy định tại Điều 354 Bộ luật hình sự hiện hành có thể là cán bộ, công chức hoặc là người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước; còn chủ thể của tội phạm quy định tại Điều 358 Bộ luật hình sự chỉ có thể là cán bộ, công chức.

3.3. Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân

Trong 07 tội phạm về tham nhũng được quy tại Mục 1 Chương XXIII Bộ luật hình sự năm 2015, dấu hiệu khác biệt của Tội tham ô tài sản (Điều 353) và Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355) là tội phạm có tính chất chiếm đoạt; Tội nhận hối lộ (Điều 354), Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358) là hai tội phạm có quy định hành vi lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất. Như vậy, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện việc làm không đúng với chức trách, nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật vì động cơ vụ lợi hoặc cá nhân, thì hành vi đó sẽ phạm vào một trong các tội quy định tại Điều 356, 357 và 359 Bộ luật hình sự hiện hành:

- Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

- Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ

- Tội giả mạo trong công tác

Để tạo cơ sở lý luận cho việc định tội danh đúng đối với các tội phạm về tham nhũng này, nhận thấy cần so sánh làm nổi bậc nét đặc trưng của từng tội phạm.

Thứ nhất, về dấu hiệu khách thể, chủ thể và mặt chủ quan của 03 loại tội phạm như đã nêu về cơ bản là như nhau: Khách thể, các hành vi phạm tội mô tả trong các cấu thành tội phạm đều xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội mà kinh phí, tài chính đảm bảo cho hoạt động có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước; Chủ thể của tội phạm là chủ thể đặc biệt, người phạm tội phải có chức vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật thì mới có điều kiện để thực hiện tội phạm một cách thuận lợi; mặt chủ quan của tội phạm, lỗi cố ý trực tiếp, động cơ phạm tội là động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân. Chủ thể nhận thức được hành vi của mình là trái luật, nhưng vì nhằm thu lợi bất chính hoặc vì nhằm thỏa mãn những vấn đề cá nhân mà chủ thể bất chấp pháp luật.

Thứ hai, những nội dung khác nhau về mặt khách quan của các tội quy định tại Điều 356, 357 và 359 Bộ luật hình sự hiện hành như sau:

Hành vi khách được mô tả trong cấu thành Tội phạm là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356) là trường hợp người phạm tội sử dụng quyền hạn được giao như là một phương tiện để thực hiện tội phạm. Hành vi làm trái công vụ như không làm hoặc làm không đúng không đầy đủ nhiệm vụ được giao. Một đặc trưng của tội phạm này là hoàn cảnh thực hiện hành vi vượt quá thẩm quyền, khi đó theo luật định thì không làm phát sinh công vụ nhưng chủ thể vẫn sử dụng quyền hạn của mình để tạo ra hoạt động trái luật; hoặc có điều kiện pháp lý làm phát sinh hoạt động công vụ, nhưng chủ thể lại thực hiện một hoạt động hoàn toàn không thuộc phạm vi công vụ.

Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357), dấu hiệu để phân biệt tội phạm này với tội phạm quy định tại Điều 356 là hoàn cảnh phạm tội. Theo quy định của pháp luật thì chủ thể có trách nhiệm phải thực hiện công vụ một cách đúng đắn, và thực hiện đã phát sinh những điều kiện cho việc thực hiện công vụ, nhưng chủ thể đã thực hiện những việc làm vượt quá giới hạn quyền năng cho phép, nên đã gây thiệt hại về tài sản hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

>> Xem thêm:  Quy định về tố cáo hành vi tham nhũng và hướng dẫn viết đơn tố cáo tham nhũng ?

Đối với Tội giả mạo trong công tác thì hành vi phạm tội thể hiện qua việc chủ thể lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi gồm, sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; làm, cấp giấy tờ giả; giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn. Một dấu hiệu rất quan trọng là người phạm tội có nhiệm vụ liên quan đến việc làm, ban hành các loại bằng cấp, giấy tờ, tài liệu của cơ quan tổ chức hoặc họ là người có trách nhiệm tham gia thực hiện các chỉ đạo, quyết định bằng văn bản của cấp trên… Sau đó, người phạm tội lợi dụng quá trình tham gia thực thi công vụ đã sửa chữa, làm sai lệch hoặc làm giả hoặc giả chữ ký của người có thẩm quyền để đưa các loại bằng cấp, giấy tờ, tài liệu vào thực tế, từ đó tác động và gây ra thiệt cho các quan hệ xã hội mà pháp luật hình sự bảo vệ.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "Định tội danh đối với hành tham nhũng trong Bộ luật hình sự năm 2015". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>> Xem thêm:  Tham nhũng phải chịu mức án như thế nào ?

Câu hỏi thường gặp về định tội danh hành vi tham nhũng

Câu hỏi: Tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là gì?

Trả lời:

Mục 1 Chương tội phạm về chức vụ có thể xác định có 02 tội danh được xem là có tính chất chiếm đoạt, đó là Tội tham ô tài sản và Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản quy định tại Điểu 353, 355 Bộ luật hình sự năm 2015

Câu hỏi: Tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ để nhận lợi ích vật chất, phi vật chất là gì?

Trả lời:

khi chủ thể lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào (vật chất hoặc phi vật chất) thì hành vi đó sẽ phạm vào một trong hai tội phạm:

Điều 354: Tội nhận hối lộ và Điều 358: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi.

Câu hỏi: Tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân là gì?

Trả lời:

Đó là một trong các tội phạm:

-Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356)

- Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357)

- Tội giả mạo trong công tác (Điều 359)