Vợ em cũng bỏ em để lại cho em một đứa con em phải nuôi từ khi đấy đến bây giờ, em không đóng được thêm tháng nào nữa giờ em nhận giấy báo của công ty luật báo về cho em nợ tín dụng 44, 500, 000 vnd không thanh toán họ khỏi kiện em. Em cũng muốn vay mượn để trả cho xong nhưng số tiền quá lớn em vay mượn không đủ. Nếu họ khởi kiện thì em có phải chịu tội hình sự không?

Mong luật sư tư vấn cho em. Em chân thành cảm ơn luật sư.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê.

Do điều kiện khó khăn không trả được nợ có phải chịu trách nhiệm hình sự ?

Luật sư tư vấn luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự năm 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009 )

2. Luật sư tư vấn:

Việc vay nợ tổ chức tín dụng được dựa trên sự thỏa thuận giữa hai bên. Nghĩa vụ trả nợ là ngghĩa vụ dân sự mà bên vay phải thực hiện khi đến thời hạn. Trong trường hợp này, khi đã đến thời hạn thanh toán mà bạn không thể thanh toán được số tiền đã vay thì bên cho vay hoàn toàn có quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc tố cáo tới cơ quan công an theo thủ tục tố tụng hình sự. Theo đó, việc truy cứu trách nhiệm hình sự với bạn có thể được thực hiện theo quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự như sau:

Điều 140Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Tuy nhiên, trong trường hợp này, về mặt chủ quan bạn không hề có ý định trốn tránh hay không thực hiện nghĩa vụ dân sự về việc trả nợ. Lý do bạn chưa hoàn thành nghĩa vụ này là do hoàn cảnh khó khăn của gia đình. Do vậy, nếu bạn chứng minh được rằng bạn không có ý định chiếm đoạt số tiền đã vay và việc không trả được nợ đúng hạn là do hoàn cảnh khách quan thì bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 

Phương hướng giải quyết: Bạn nên trình bày hoàn cảnh thực tế và xin gia hạn thời hạn vay với tổ chức tín dụng để được giúp đỡ.

 Tham khảo bài viết liên quan:

Vay vốn nhưng không trả được nợ ?

Khi người vay nợ bở trốn

Lãi suất khi cho vay nợ tính như thế nào ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Lao động.