1. Lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định tại khoản 17 Điều 4 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 thì doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và luật khác có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe.
Doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định là các doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật về doanh nghiệp (có thể tổ chức dưới loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần). Để hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm thì các doanh nghiệp này cũng phải đáp ứng các quy định khi thành lập lẫn việc đi vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm. Kinh doanh bảo hiểm là mục đích sinh lợi của doanh nghiệp bảo hiểm tiếp nhận rủi ro của khách hàng trên cơ sở thỏa thuận, hợp đồng bảo hiểm để nếu xảy ra sự kiện bảo hiểm sẽ chi trả, bồi thường cho người được bảo hiểm. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm cũng là hoạt động kinh doanh chính của các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp cơ sở, quan hệ giữa bên doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm và khách hàng.
Hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm cũng là hoạt động sinh lợi của các doanh nghiệp bảo hiểm. Đây thực chất là hoạt động chuyển giao trách nhiệm bảo hiểm từ doanh nghiệp bảo hiểm này sang doanh nghiệp bảo hiểm khác. Khi doanh nghiệp bảo hiểm này thỏa thuận nhận lại nghĩa vụ thực hiện hợp đồng bảo hiểm từ doanh nghiệp bảo hiểm khác. Từ đó doanh nghiệp nhận nghĩa vụ đó sẽ thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng mà doanh nghiệp bảo hiểm chuyển nhượng cho mình với khách hàng. Doanh nghiệp bảo hiểm chuyên giao nghĩa vụ sang bên doanh nghiệp bảo hiểm khác gọi bên nhượng tái bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm nhận sẽ là bên tái bảo hiểm.
Ngoài các hoạt động chính trên doanh nghiệp bảo hiểm còn được thực hiện một số hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật như kinh doanh bất động sản, ...
2. Doanh nghiệp bảo hiểm có còn được kinh doanh bất động sản sau ngày 01/01/2028 không?
Theo quy định tại khoản 3 Điều 99 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 thì doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được phép thực hiện các hoạt động đầu tư sau đây:
- Kinh doanh bất động sản, trừ các trường hợp mua cổ phiếu của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán, chứng chỉ quỹ của quỹ đại chúng, mua, đầu tư, sở hữu bất động sản để sử dụng làm trụ sở kinh doanh, địa điểm làm việc hoặc cơ sở kho tàng phục vụ trực tiếp cho các hoạt động nghiệp vụ, cho thuê trụ sở kinh doanh chưa sử dụng hết thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng, nắm giữ bất động sản do xử lý trái phiếu có bảo đảm bằng bất động sản, do đối trừ công nợ phải thu bằng bất động sản trong thời hạn 03 năm kể từ ngày nắm giữ.
- Đầu tư kim khí quý, đá quý.
- Đầu tư tài sản cố định vô hình, trừ trường hợp phục vụ cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp, chi nhánh.
- Đầu tư chứng khoán phái sinh hoặc hợp đồng phái sinh, trừ trường hợp chứng khoán phái sinh niêm yết nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm và từ danh mục đầu tư chứng khoán doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam đang nắm giữ.
Theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 (luật hiện hành) thì có liệt kê bất động sản là lĩnh vực mà doanh nghiệp bảo hiểm không được phép đầu tư trừ các trường hợp đã được quy định về bất động sản thì vẫn có thể được tiếp tục đầu tư theo quy định của pháp luật.
Về hiệu lực thi hành thì theo quy định tại Điều 156 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 thì luật kinh doanh bảo hiểm năm 2022 sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023 trừ các trường hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 86, khoản 4 và khoản 5 Điều 94, Điều 95, khoản 3 và khoản 4 Điều 99, các Điều 109, 110, 111, 112, 113, 114 và 116 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2028.
Như vậy theo quy định thì các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không được đầu tư bất động sản (trừ các trường hợp theo quy định) kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2028.
3. Quy định của pháp luật về đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm ngoài các hoạt động chính liên quan đến kinh doanh bảo hiểm thì có sử sử dụng nguồn vốn của họ để đầu tư vào một số ngành, nghề theo quy định của pháp luật. Việc đầu tư này một phần giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp bảo hiểm, một phần khác sẽ hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đối với các ngành nghề được đầu tư. Việc trao quyền đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm cũng thể hiện chính sách bình đẳng, công bằng tạo thuận lợi cho việc kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng.
Quy định về các nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đầu tư. Các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt nam được sử dụng vốn chủ sở hữu, phần vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ theo quy định của Chính phủ và các nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật để thực hiện đầu tư.
Nguyên tắc đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải tuân thủ như sau:
- Bảo đảm an toàn, thanh khoản, hiệu quả; tuân thủ quy định pháp luật, tự chịu trách nhiệm về hoạt động đầu tư.
- Dự phòng nghiệp vụ chỉ được đầu tư tại Việt Nam, trừ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm được đầu tư ra nước ngoài từ phần vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ của các hợp đồng bảo hiểm có quyền lợi liên kết với các chỉ số đầu tư của nước ngoài và phần vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ của các hợp đồng bảo hiểm được giao kết với các tổ chức, cá nhân tại nước ngoài.
- Không được vay để đầu tư, ủy thác đầu tư vào chứng khoán, kinh doanh bất động sản hoặc góp vốn vào doanh nghiệp khác.
- Không được đầu tư quá 30% nguồn vốn đầu tư vào các công ty trong cùng một nhóm công ty có quan hệ sở hữu lẫn nhau. Quy định này không áp dụng với việc gửi tiền vào các tổ chức tín dụng và nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức thành lập doanh nghiệp hoặc thành lập chi nhánh tại nước ngoài.
- Không được đầu tư trở lại dưới mọi hình thức cho các cổ đông, thành viên góp vốn hoặc người có liên quan với cổ đông, thành viên góp vốn theo quy định của luật doanh nghiệp, trừ tiền gửi tại các cổ đông, thành viên là tổ chức tín dụng.
- Không được mua trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong đó có mục đích để cơ cấu lại các khoản nợ của chính doanh nghiệp phát hành.
- Trường hợp ủy thác đầu tư, tổ chức nhận ủy thác phải được cấp phép thực hiện hoạt động nhận ủy thác đầu tư phù hợp với nội dung nhận ủy thác đầu tư.
Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam thực hiện xác định giá trị tài sản đầu tư theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Việc hạn mức đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện theo hạn mức của Chính phủ quy định.
Quý khách hàng có thể tham khảo thêm nội dung bài viết tại địa chỉ: Chống trục lợi bảo hiểm tài sản trong Luật Kinh doanh bảo hiểm
Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi, mọi thắc mắc quý khách hàng xin vui lòng liên hệ số Hotline :19006162 hoặc địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn để được trao đổi. Xin trân trọng cảm ơn!