1. Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi)
Sáng 16/6/2023, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Ba, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định và Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải. Với 469/474 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 94,18% tổng số đại biểu Quốc hội, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi).
Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) được Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV thông qua gồm 157 điều. Luật này quy định về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm; quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Luật này không áp dụng đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh.
Đối tượng áp dụng của Luật gồm: Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô; Chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, chi nhánh doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài (sau đây gọi là chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam); Văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam); Bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng; Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm; Tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Điều khoản chuyển tiếp của Luật này quy định: Các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết trước ngày Luật này có hiệu lực và còn thời hạn hợp đồng thì tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng để phù hợp với Luật này và để áp dụng quy định của Luật này.
Chứng chỉ đại lý bảo hiểm được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực được tiếp tục sử dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2025. Bộ Tài chính quy định chi tiết việc chuyển đổi chứng chỉ đại lý bảo hiểm được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực sang chứng chỉ đại lý bảo hiểm theo quy định của Luật này. Chứng chỉ bảo hiểm, chứng chỉ môi giới bảo hiểm, chứng chỉ về phụ trợ bảo hiểm được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực được tiếp tục sử dụng. Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài dừng trích nộp Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm.
Ngoài ra, việc xử lý số dư Quỹ Bảo vệ người được bảo hiểm được thực hiện như sau: Toàn bộ số dư của Quỹ Bảo vệ người được bảo hiểm được Bộ Tài chính quản lý để sử dụng cho mục đích bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm mất khả năng thanh toán hoặc phá sản; Chính phủ quy định chi tiết về quản lý và sử dụng số dư của Quỹ Bảo vệ người được bảo hiểm.
Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng khoản 2 Điều 34 chỉ yêu cầu bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm. Đề nghị làm rõ khi giao kết hợp đồng, bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm như được cơ quan có thẩm quyền xác định không phải là cha, mẹ, con hoặc vợ, chồng ly thân, ly hôn thì hợp đồng bảo hiểm được giải quyết như thế nào? Đặc biệt là trường hợp khi xảy ra sự kiện bảo hiểm nhưng bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có được nhận tiền bảo hiểm hay không? Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, khoản 2 Điều 34 yêu cầu bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, nếu bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm như được cơ quan có thẩm quyền xác định không phải là cha, mẹ, con hoặc vợ, chồng ly thân, ly hôn thì hợp đồng bảo hiểm vẫn còn hiệu lực nhưng phải được chuyển giao theo quy định tại Điều 28. Trường hợp bên mua bảo hiểm không muốn tiếp tục duy trì hợp đồng thì có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 26 của dự thảo Luật.
2. Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) tác động tích cực đối với thị trường bảo hiểm
Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) sẽ có tác động tích cực về dài hạn đối với thị trường bảo hiểm.
Điểm quan trọng nhất là Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) được xây dựng với tinh thần xuyên suốt là các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tự chủ hơn trong hoạt động kinh doanh, trong đó các cơ quan quản lý sẽ không can thiệp quá sâu về mặt kỹ thuật vào hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm như trước đây.
Thay vào đó, vai trò của cơ quan quản lý sẽ là ưu tiên quản lý giám sát, thúc đẩy tính minh bạch và sự phát triển lành mạnh của thị trường bảo hiểm. Một trong những ví dụ có thể kể đến là việc đưa ra tỷ lệ an toàn vốn cùng với các yêu cầu khắt khe hơn về việc công bố thông tin.
Luật Kinh doanh bảo hiểm mới sẽ có tác động tích cực về dài hạn đối với thị trường bảo hiểm. Với những thay đổi về mô hình quản lý vốn, có thể sẽ có áp lực tăng vốn tại một số công ty bảo hiểm nhất định. Tuy nhiên, các quy định này có giai đoạn chuyển tiếp 5 năm, tạo một khoảng thời gian đệm giữa khung pháp lý và việc áp dụng trong hoạt động thực tế (2023 - 2027).
Mặc dù còn những tồn tại về mặt hiệu quả và khả năng sinh lời nhưng dư địa tăng trưởng về dài hạn của thị trường bảo hiểm Việt Nam là rất lớn. Đặc biệt, môi trường lãi suất tăng cũng sẽ có tác động tích cực đến tỷ suất đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm do phần lớn tài sản đầu tư của doanh nghiệp này là tiền gửi ngân hàng và trái phiếu.
3. Dành một chương riêng về Bảo hiểm vi mô
Bảo hiểm vi mô là bảo hiểm hướng tới các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp nhằm bảo vệ họ trước những rủi ro về tính mạng, sức khỏe, tài sản. Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa quy định bảo hiểm vi mô như một loại hình bảo hiểm. Do đó, để tạo cơ sở pháp lý rõ ràng đối với loại hình bảo hiểm vi mô, đề nghị xem xét, bổ sung loại hình bảo hiểm vi mô vào khoản 1 Điều 7 và được xem là một trong các loại hình của bảo hiểm.
Bảo hiểm vi mô không phải là một sản phẩm bảo hiểm cụ thể mà là các sản phẩm bảo hiểm hướng tới đối tượng khách hàng là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, khó tiếp cận với các sản phẩm bảo hiểm thương mại thông thường. Các sản phẩm bảo hiểm vi mô có thể thuộc một trong ba loại hình (bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe) hoặc kết hợp các quyền lợi của cả ba loại hình bảo hiểm này.
Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) dành riêng Chương V nói về Bảo hiểm vi mô, quy định rõ đặc điểm của sản phẩm vi mô; việc xây dựng, thiết kế, phát triển sản phẩm bảo hiểm vi mô; tổ chức cung cấp bảo hiểm vi mô; doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài cung cấp bảo hiểm vi mô; tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô; điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô; và nguyên tắc hoạt động của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
Tổ chức cung cấp bảo hiểm vi mô bao gồm: doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thành lập và hoạt động tại Việt Nam; tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô thành lập và hoạt động tại Việt Nam.
Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi cũng quy định rõ, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô chỉ được cung cấp bảo hiểm vi mô cho chính các thành viên của mình. Thành viên tham gia bảo hiểm vừa là chủ sở hữu của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, vừa là bên mua bảo hiểm. Toàn bộ lợi nhuận thu được từ hoạt động cung cấp bảo hiểm vi mô của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô được sử dụng để phục vụ lợi ích cho các thành viên tham gia bảo hiểm thông qua việc giảm trừ phí bảo hiểm, gia tăng quyền lợi bảo hiểm của người được bảo hiểm, hỗ trợ cho các thành viên và các mục tiêu khác theo điều lệ của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
Bài viết tham khảo: Danh sách 07 Luật thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV
Luật Minh Khuê sẽ giải đáp nhanh chóng các thắc mắc qua tổng đài 1900.6162 hoặc qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn ./.