1. Doanh nghiệp chế xuất có được nhận thanh toán bằng ngoại tệ khi bán hàng cho doanh nghiệp nội địa?

Dựa theo quy định của Điều 4 Thông tư 32/2013/TT-NHNN, Căn cứ vào Khoản 12, các doanh nghiệp chế xuất cư trú tại Việt Nam phải tuân theo các quy tắc sau đây:

- Ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thực hiện thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi mua hàng hóa từ thị trường nội địa nhằm mục đích sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp hàng xuất khẩu, hoặc để xuất khẩu, trừ các trường hợp hàng hóa thuộc diện cấm xuất khẩu. Đối với doanh nghiệp trong nước, họ sẽ báo giá và định giá bằng ngoại tệ, cũng như nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi bán hàng hóa cho doanh nghiệp chế xuất.

- Báo giá, định giá, và ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ, cùng với việc thanh toán và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản, đối với các doanh nghiệp chế xuất khác.

Như vậy, các doanh nghiệp chế xuất chỉ được sử dụng ngoại tệ trong các trường hợp sau đây:

- Khi mua hàng hóa từ thị trường nội địa để sử dụng cho quá trình sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp hàng xuất khẩu hoặc để xuất khẩu, trừ trường hợp hàng hóa thuộc diện cấm xuất khẩu.

- Khi nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản từ doanh nghiệp chế xuất khác.

Do đó, đối với doanh nghiệp trong khu chế xuất, việc cung ứng hàng hóa và dịch vụ cho doanh nghiệp nội địa bằng ngoại tệ là không được phép.

2. Những trường hợp được sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam

Dựa theo Điều 4 Thông tư 32/2013/TT-NHNN, các điều sau đây được quy định:

- Các cơ quan nhà nước tại các cửa khẩu Việt Nam và kho ngoại quan có thẩm quyền niêm yết, thu bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ người không cư trú đối với các loại thuế, phí thị thực xuất nhập cảnh, phí cung ứng dịch vụ và các loại phí, lệ phí khác theo quy định của pháp luật.

- Các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh và cung ứng dịch vụ ngoại hối (gọi tắt là tổ chức tín dụng được phép) được quyền thực hiện giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, và ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại hối trong phạm vi kinh doanh và cung ứng dịch vụ ngoại hối đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép thực hiện theo quy định của pháp luật.

- Các tổ chức khác được phép cung ứng dịch vụ ngoại hối được quyền giao dịch và niêm yết bằng ngoại tệ trong phạm vi cung ứng dịch vụ ngoại hối đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép thực hiện theo quy định của pháp luật.

- Người cư trú là tổ chức có tư cách pháp nhân được phép điều chuyển vốn nội bộ bằng ngoại tệ chuyển khoản giữa tài khoản của tổ chức đó và tài khoản của đơn vị phụ thuộc không có tư cách pháp nhân, và ngược lại.

- Người cư trú được phép góp vốn bằng ngoại tệ chuyển khoản để thực hiện dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

- Người cư trú thực hiện hợp đồng ủy thác nhập khẩu, xuất khẩu theo quy định sau:

+ Người cư trú nhận ủy thác nhập khẩu được ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản đối với giá trị hợp đồng nhập khẩu từ bên ủy thác nhập khẩu.

+ Người cư trú nhận ủy thác xuất khẩu được ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản đối với giá trị hợp đồng xuất khẩu cho bên ủy thác xuất khẩu.

- Người cư trú là nhà thầu trong nước, nhà thầu nước ngoài thực hiện theo quy định sau:

+ Đối với chi phí ngoại nước liên quan đến việc thực hiện gói thầu thông qua đấu thầu quốc tế theo quy định tại Luật Đấu thầu: nhà thầu được chào thầu bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản từ chủ đầu tư, nhà thầu chính để thanh toán, chi trả và chuyển ra nước ngoài.

+ Đối với việc thực hiện gói thầu theo quy định của pháp luật về dầu khí: nhà thầu được chào thầu bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản từ chủ đầu tư, nhà thầu chính để thanh toán, chi trả và chuyển ra nước ngoài.

- Người cư trú là doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện theo quy định sau:

+ Được báo giá, định giá, và ghi giá dịch vụ bảo hiểm trong hợp đồng bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản từ bên mua bảo hiểm đối với hàng hóa, dịch vụ phải mua tái bảo hiểm ở nước ngoài.

+ Trong trường hợp phát sinh tổn thất đối với phần tái bảo hiểm ra nước ngoài, người cư trú là tổ chức mua bảo hiểm nhận số tiền bồi thường bằng ngoại tệ chuyển khoản từ công ty tái bảo hiểm nước ngoài thông qua doanh nghiệp bảo hiểm để thanh toán các chi phí khắc phục tổn thất ở nước ngoài.

- Tổ chức kinh doanh hàng miễn thuế, được quy định theo Điều 4 Thông tư 32/2013/TT-NHNN, có quyền niêm yết giá hàng hóa bằng ngoại tệ và thực hiện thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt khi cung cấp hàng hóa. Việc sử dụng ngoại tệ trong giao dịch tại cửa hàng miễn thuế phải tuân theo quy định của pháp luật về kinh doanh bán hàng miễn thuế.

- Tổ chức cung ứng dịch vụ ở khu cách ly tại các cửa khẩu quốc tế và tổ chức kinh doanh kho ngoại quan, theo quy định của Điều 4, được quyền niêm yết, báo giá, định giá, và ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ. Thanh toán cho việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cũng có thể được thực hiện bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt.

- Tổ chức làm đại lý cho hãng vận tải nước ngoài, theo hợp đồng đại lý, được quy định theo Điều 4 như sau:

   + Thay mặt cho hãng vận tải nước ngoài, họ có quyền báo giá, định giá, và ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ đối với cước phí vận tải hàng hóa quốc tế. Thanh toán phải được thực hiện bằng đồng Việt Nam.

   + Chi hộ cũng có thể được thực hiện bằng ngoại tệ chuyển khoản để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ tại cảng biển quốc tế, khu cách ly tại sân bay quốc tế.

   + Chi hộ cũng có thể được thực hiện bằng ngoại tệ tiền mặt để trả lương, thưởng, phụ cấp cho người không cư trú do hãng tàu biển nước ngoài ủy quyền.

- Doanh nghiệp chế xuất, theo quy định của Điều 4, được quyền thực hiện những điều sau đây:

   + Ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi mua hàng hóa từ thị trường nội địa để sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp hàng xuất khẩu hoặc để xuất khẩu, trừ hàng hóa thuộc diện cấm xuất khẩu.

   + Doanh nghiệp trong nước có quyền báo giá và định giá bằng ngoại tệ, cũng như nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi bán hàng hóa cho doanh nghiệp chế xuất.

   + Báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng cũng có thể thực hiện bằng ngoại tệ và thanh toán, nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản với doanh nghiệp chế xuất khác.

- Tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực vận chuyển hàng không, khách sạn, du lịch, được quy định bởi Điều 4, có quyền niêm yết, quảng cáo giá hàng hóa và dịch vụ bằng cả Đồng Việt Nam và ngoại tệ tương đương trên trang tin điện tử và ấn phẩm chuyên ngành (không bao gồm thực đơn và bảng giá dịch vụ), nhưng chỉ sử dụng tiếng nước ngoài.

- Các tổ chức, bao gồm cả người không cư trú và người cư trú, theo hợp đồng lao động có thể được thỏa thuận và trả lương, thưởng, phụ cấp bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt, đặc biệt đối với những người không cư trú và người cư trú là người nước ngoài làm việc cho tổ chức đó.

- Cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự, theo Điều 4, được quyền niêm yết bằng ngoại tệ và thu phí thị thực xuất nhập cảnh, cũng như các loại phí, lệ phí khác bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt.

Như vậy, chỉ có một số trường hợp được phép sử dụng ngoại tệ theo quy định này.

3. Có hạn chế gì khi sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam?

Dựa theo Điều 3 của Thông tư 32/2013/TT-NHNN, quy định về nguyên tắc hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam như sau:

Trên địa bàn Việt Nam, ngoại trừ những trường hợp được ưu tiên sử dụng ngoại hối quy định tại Điều 4 của Thông tư, mọi hoạt động giao dịch, thanh toán, niêm yết giá, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương đương (bao gồm cả việc quy đổi hoặc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thỏa thuận) của người cư trú và người không cư trú đều không được thực hiện bằng ngoại hối. Tóm lại, theo quy định này, việc sử dụng ngoại hối vẫn bị hạn chế và chỉ có một số trường hợp cụ thể được phép thực hiện giao dịch bằng ngoại hối.

Bài viết liên quan: Ngoại tệ là gì? Quy định về hoạt động mua bán, đổi ngoại tệ?

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về: Doanh nghiệp chế xuất có được nhận thanh toán bằng ngoại tệ khi bán hàng cho doanh nghiệp nội địa hay không? Mọi thắc mắc có liên quan đến những vấn đề pháp luật, mời quý khách hàng liên hệ với chúng tôi qua số tổng đài: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!