1. Những hàng hóa nào chịu thuế GTGT?
Dựa trên quy định tại Điều 3 của Luật Thuế giá trị gia tăng 2008, đối tượng chịu thuế bao gồm hàng hóa, dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam, trừ những đối tượng được quy định tại Điều 5 của luật nêu trên.
Theo quy định tại Điều 5 của Luật Thuế giá trị gia tăng 2008, được bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 của Luật sửa đổi năm 2013; khoản 1 Điều 3 của Luật sửa đổi về thuế năm 2014; và khoản 1 Điều 1 của Luật Thuế giá trị gia trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt 2008 và Luật Quản lý thuế sửa đổi năm 2016, có các đối tượng không chịu thuế cụ thể như sau:
- Sản phẩm từ trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, khi tổ chức hoặc cá nhân tự sản xuất, đánh bắt và bán ra, hoặc ở khâu nhập khẩu. Doanh nghiệp, hợp tác xã mua sản phẩm này mà chưa chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường để bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã khác sẽ không phải kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng, nhưng vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
- Sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng, bao gồm trứng giống, con giống, cây giống, hạt giống, tinh dịch, phôi, và vật liệu di truyền.
- Dịch vụ như tưới, tiêu nước; cày, bừa đất; nạo vét kênh, mương nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp; cũng như dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp.
Các sản phẩm và dịch vụ như phân bón; máy móc và thiết bị chuyên dùng phục vụ sản xuất nông nghiệp; tàu đánh bắt xa bờ; thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác.
- Sản phẩm muối được sản xuất từ nước biển, muối mỏ tự nhiên, muối tinh, muối i-ốt với thành phần chính là Na-tri-clo-rua (NaCl).
- Nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước bán cho người đang thuê.
- Quyền sử dụng đất được chuyển nhượng.
- Dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, và các dịch vụ bảo hiểm khác liên quan đến con người; bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng, và các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác; cũng như bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết phục vụ trực tiếp đánh bắt thủy sản; cùng với các dịch vụ tái bảo hiểm.
Do đó, các sản phẩm và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh, và tiêu dùng tại Việt Nam đều là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ những trường hợp được miễn thuế theo quy định của luật. Nhìn chung, vì phạm vi của hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng là rộng lớn, quá trình xác định đối tượng chịu thuế sẽ chủ yếu dựa trên quy định về những đối tượng được miễn thuế.
2. Những quy định riêng áp dụng đối với doanh nghiệp chế xuất
Dựa trên quy định của Điều 30 trong Nghị định số 82/2018/NĐ-CP, các quy định riêng được áp dụng cho doanh nghiệp chế xuất như sau:
- Doanh nghiệp chế xuất sẽ áp dụng các quy định trong khu vực hải quan riêng, khu phi thuế quan trừ các quy định đặc biệt áp dụng cho khu phi thuế quan thuộc khu kinh tế cửa khẩu. Thông tin về doanh nghiệp chế xuất cũng sẽ được quy định trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc trong văn bản của cơ quan đăng ký đầu tư có thẩm quyền, trong trường hợp không thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Cơ quan đăng ký đầu tư sẽ liên kết với cơ quan hải quan để đảm bảo khả năng kiểm tra, giám sát hải quan trước khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc xác nhận bằng văn bản cho nhà đầu tư.
- Trong khu công nghiệp, có thể có các phân khu công nghiệp dành cho doanh nghiệp chế xuất. Doanh nghiệp chế xuất hoặc phân khu công nghiệp dành cho doanh nghiệp chế xuất sẽ được phân chia và ngăn cách với lãnh thổ bên ngoài bằng hệ thống tường rào, cổng và cửa ra, vào, đảm bảo điều kiện cho sự kiểm tra, giám sát và kiểm soát của cơ quan hải quan và các cơ quan chức năng liên quan theo quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan, cũng như theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu.
- Doanh nghiệp chế xuất có quyền mua vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm, lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng từ nội địa Việt Nam để xây dựng công trình và phục vụ cho điều hành bộ máy văn phòng và sinh hoạt của cán bộ, công nhân làm việc tại doanh nghiệp.
Doanh nghiệp chế xuất và người bán hàng cho doanh nghiệp chế xuất có quyền lựa chọn việc thực hiện hoặc không thực hiện thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu đối với vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm, lương thực, thực phẩm, và hàng tiêu dùng từ nội địa Việt Nam.
- Thủ tục hải quan, kiểm tra và giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu của doanh nghiệp chế xuất sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về hải quan.
- Quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các doanh nghiệp chế xuất và các khu vực khác trên lãnh thổ Việt Nam, không thuộc khu phi thuế quan, được coi là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu, trừ các trường hợp quy định tại khoản 3 của Điều này và những trường hợp không yêu cầu thủ tục hải quan do Bộ Tài chính quy định. Doanh nghiệp chế xuất được phép bán tài sản thanh lý và các hàng hóa theo quy định của pháp luật về đầu tư và thương mại. Trong quá trình bán, việc thanh lý vào thị trường nội địa không áp dụng chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, trừ khi hàng hóa thuộc diện quản lý theo điều kiện, tiêu chuẩn, kiểm tra chuyên ngành chưa thực hiện khi nhập khẩu; hàng hóa được quản lý bằng giấy phép cần được cơ quan cấp phép nhập khẩu đồng ý bằng văn bản.
- Cán bộ, công nhân viên làm việc trong doanh nghiệp chế xuất khi mang ngoại hối từ nội địa Việt Nam vào doanh nghiệp chế xuất và ngược lại không cần phải khai báo hải quan.
- Doanh nghiệp chế xuất khi được phép kinh doanh mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam phải mở sổ kế toán hạch toán riêng cho doanh thu, chi phí liên quan đến hoạt động này và phải bố trí khu vực lưu giữ hàng hóa phân biệt với khu vực lưu giữ hàng hóa phục vụ sản xuất của doanh nghiệp chế xuất. Đồng thời, có thể thành lập chi nhánh riêng nằm ngoài doanh nghiệp chế xuất để thực hiện các hoạt động này.
- Chi nhánh của doanh nghiệp chế xuất sẽ được áp dụng cơ chế đối với doanh nghiệp chế xuất theo quy định của Điều này, miễn là chi nhánh đó đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 2 của Điều này, và được thành lập trong khu chế xuất, khu công nghiệp, khu kinh tế, với hạch toán độc lập hoặc phụ thuộc vào doanh nghiệp chế xuất.
3. Doanh nghiệp chế xuất mua bán hàng hóa với công ty nước ngoài có phải nộp thuế giá trị gia tăng?
Tại điều 20 của Điều 4 trong Thông tư 219/2013/TT-BTC, quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT như sau:
Hàng hóa chuyển khẩu, quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam; hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu; hàng tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu; nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng hóa xuất khẩu theo hợp đồng sản xuất, gia công xuất khẩu ký kết với bên nước ngoài.
Hàng hóa, dịch vụ được mua bán giữa nước ngoài với các khu phi thuế quan và giữa các khu phi thuế quan với nhau.
Khu phi thuế quan bao gồm: khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, khu bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại - công nghiệp và các khu vực kinh tế khác được thành lập và được hưởng các ưu đãi về thuế như khu phi thuế quan theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Quan hệ mua bán trao đổi hàng hóa giữa các khu này với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu.
Hồ sơ, thủ tục để xác định và xử lý không thu thuế GTGT trong các trường hợp này thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Do đó, doanh nghiệp chế xuất khi thực hiện trao đổi, mua bán hàng hóa với công ty ở nước ngoài trong khu phi thuế quan không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, và do đó không cần phải nộp thuế GTGT.
Bài viết liên quan: Tư vấn về việc xuất hóa đơn VAT 10% cho doanh nghiệp chế xuất ?
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!