- 1. Bảo vệ quyền con người là trách nhiệm của nhà nước
- 2. Mối quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp
- 3. Nhà nước xây dựng Hiến pháp, pháp luật, chính sách về quyền con người
- 4. Nhà nước tổ chức thực thi Hiến pháp, pháp luật và chính sách bảo đảm quyền con người
- 5. Nhà nước xây dựng và củng cố các thiết chế bảo đảm quyền con người
1. Bảo vệ quyền con người là trách nhiệm của nhà nước
Quyền con người được quy định trong các công ước và hiệp định quốc tế với sự tham gia và phê chuẩn của các nhà nước. Như vậy, trong lĩnh vực quyền con người, trước hết cần xem các nhà nước là chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện quyền con người, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người. Những nguyên tắc quyền con người thông thường có hiệu lực trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Nhờ có hành vi nội luật hoá các cam kết quốc tế về quyền con người của nhà nước mà quyền con người trở thành các quy định có giá trị bắt buộc và ràng buộc không chỉ đối với nhà nước mà cả các chủ thể tư (công dân, doanh nghiệp) và biến nó thành những quyền có khả năng được khiếu kiện khi bị xâm phạm. Trách nhiệm của nhà nước đối với quyền con người có thể được cụ thể hóa thành ba thể loại nghĩa vụ: ngăn ngừa các vi phạm pháp luật, bảo vệ người dân chống lại sự vi phạm của các chủ thể khác và chăm lo cho việc thực hiện một cách đầy đủ quyền con người.
Trách nhiệm thực hiện quyền con người như vậy hoàn toàn thuộc về nhà nước, chủ thể đã ký các hiệp định về quyền con người. Các nhà nước gánh vác trước hết trách nhiệm thực hiện các bước đi cần thiết để bảo vệ công dân của họ trước sự vi phạm quyền con người. Nghĩa vụ này bao gồm các biện pháp ngăn chặn cũng như phân tích các vi phạm quyền con người trên thực tế hoặc nghi ngờ, trừng trị những người gây hại và bảo vệ sự truy cứu trách nhiệm bồi thường. Doanh nghiệp chẳng có nhiệm vụ chính trị và xã hội cũng như năng lực và nguồn lực để đảm nhiệm trách nhiệm đối với quyền con người. Doanh nghiệp cũng không phải chịu trách nhiệm đối với những thất bại của chính phủ trong việc thực thi chính sách quyền con người. Doanh nghiệp chỉ có thể bổ sung chứ không thể thay thế vai trò của chính phủ trong việc thúc đẩy quyền con người.
2. Mối quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp
Mỗi Quốc gia đều là chủ thể có nghĩa vụ chính theo luật quốc tế về quyền con người, và là chủ thể nhận ủy thác của các thiết chế nhân quyền quốc tế nói chung. Trong trường hợp một doanh nghiệp bị kiểm soát bởi nhà nước hoặc hành vi của doanh nghiệp này được xem là một phần hành vi của nhà nước, thì hành vi xâm phạm quyền con người của doanh nghiệp này được xem là hành vi vi phạm nghĩa vụ theo luật quốc tế của nhà nước. Hơn nữa, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà nước càng gắn bó, hoặc mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp này về mặt pháp lý hay hỗ trợ thuế càng nhiều, thì nhà nước càng có thêm cơ sở chính sách hướng tới đảm bảo việc tôn trọng quyền con người của doanh nghiệp.
Trong trường hợp nhà nước sở hữu hay kiểm soát doanh nghiệp, nhà nước sẽ có đủ điều kiện nhất theo trong phạm vi quyền lực của mình để bảo đảm rằng các chính sách, pháp luật và quy định có liên quan đến vấn đề tôn trọng quyền con người được thực hiện. Các bộ phận quản lý cấp cao thường báo cáo cho cơ quan nhà nước, các cơ quan hữu quan của chính phủ có thẩm quyền và phạm vi giám sát lớn hơn, bao gồm việc bảo đảm rằng rà soát về quyền con người được thực thi hiệu quả.
Có nhiều cơ quan có mối liên hệ chính thức hoặc không chính thức với nhà nước hỗ trợ và cung cấp dịch vụ cho hoạt động của doanh nghiệp. Các cơ quan này bao gồm cơ quan tín dụng xuất khẩu, bảo hiểm hay bảo đảm đầu tư chính thức, cơ quan phát triển và tổ chức tài chính phát triển. Trường hợp các cơ quan này không cân nhắc đến ảnh hưởng tiêu cực, ở dạng tiềm năng hay trên thực tế một cách rõ ràng, về quyền con người của các doanh nghiệp có quyền lợi liên quan, họ tự đặt mình vào tình thế rủi ro vì hỗ trợ cho các hành vi gây hại đó, về mặt danh tiếng, tài chính, chính trị và cả pháp luật, và các cơ quan này cũng tạo thêm thách thức về quyền con người mà Quốc gia sở tại phải đối mặt.
Với những rủi ro này, các Quốc gia nên khuyến khích và, nếu xét thấy hợp lý, yêu cầu việc rà soát về quyền con người được tiến hành bởi chính các cơ quan này và bởi những doanh nghiệp hay dự án nhận hỗ trợ từ các cơ quan đó. Việc yêu cầu rà soát về nhân quyền phần lớn được xem là hợp lý khi bản chất của hoạt động doanh nghiệp hay bối cảnh hoạt động kinh doanh hàm chứa các rủi ro nghiêm trọng đối với quyền con người.
3. Nhà nước xây dựng Hiến pháp, pháp luật, chính sách về quyền con người
Xuất phát từ nghĩa vụ quan trọng và cơ bản “định ra các đạo luật” xác định QCN và quyền công dân, quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo đảm quyền con người (QCN). Chẳng hạn, từ khi đổi mới và hội nhập đến nay, Việt Nam đã hai lần sửa đổi Hiến pháp vào năm 1992 và năm 2013, đánh dấu sự đổi mới quan trọng của Nhà nước Việt Nam trong tư duy pháp lý về QCN. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, quyền con người được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992, đó là “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” (Điều 50).
Từ quy định có tính nguyên tắc này, Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng chủ thể của QCN nói chung cũng như các quyền và tự do cơ bản của công dân nói riêng. Nếu như ở Hiến pháp năm 1992, khái niệm quyền con người chỉ chủ yếu dừng lại ở chủ thể là “công dân” thì ở Hiến pháp năm 2013, các chủ thể của QCN thuộc về tất cả mọi người chứ không chỉ là công dân. Việc ghi nhận này có ý nghĩa quan trọng trong việc nội luật hóa các Công ước quốc tế về QCN mà Việt Nam là thành viên, phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển, đồng thời, quan trọng hơn là tránh được sự nhầm lẫn giữa QCN và quyền công dân thường mắc phải trong các Hiến pháp trước đó. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung thêm một số quyền mới mang tính thực tế, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, thể hiện vai trò làm chủ thực chất của người dân như: quyền được giữ bí mật thông tin; quyền tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương; quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và danh dự; quyền được sở hữu về thu nhập hợp pháp, về nhà ở; quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề pháp luật không cấm; quyền được hưởng thụ các giá trị văn hóa, sử dụng các giá trị văn hóa, quyền được sống trong môi trường trong lành,...
Bên cạnh việc nâng cao số lượng và chất lượng QCN trong Hiến pháp, Nhà nước chú trọng nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, ban hành các văn bản luật với các quy định cụ thể, dễ thực hiện, giảm dần các luật, pháp lệnh chỉ dừng lại ở các nguyên tắc chung nhằm giảm bớt việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành. Nhiều bộ luật được sửa đổi và ban hành mới đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, bảo đảm tốt hơn các quyền của người dân như: Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật về Trách nhiệm bồi thường của nhà nước, Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Người cao tuổi,...
4. Nhà nước tổ chức thực thi Hiến pháp, pháp luật và chính sách bảo đảm quyền con người
Việc bảo đảm QCN trong hoạt động thực thi Hiến pháp, pháp luật, chính sách đã được Nhà nước Việt Nam quan tâm một cách tích cực. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, chính quyền địa phương các cấp đã áp dụng một số biện pháp chủ yếu sau:
- Hướng dẫn, tổ chức và kiểm tra việc thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương về những vấn đề chung, có ý nghĩa chiến lược về bảo đảm QCN.
- Hướng dẫn, tổ chức và kiểm tra việc thực hiện pháp luật của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhằm bảo đảm các quyền đã được công nhận trong Hiến pháp như: quyền bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý nhà nước, xã hội; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng; quyền tiếp cận giáo dục, y tế; các quyền về lao động, việc làm, an sinh xã hội;..
- Lồng ghép QCN vào quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện các chương trình, chính sách phát triển. Hoạt động này phản ánh những đổi mới trong tư duy phát triển của Đảng, Nhà nước Việt Nam, phù hợp với chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
- Trực tiếp áp dụng các biện pháp mang tính sáng tạo, phù hợp với bối cảnh cụ thể của từng ngành, từng địa phương nhằm nâng cao năng lực hưởng thụ các quyền của người dân, đặc biệt là của các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương. Hoạt động này gắn với những sáng kiến đa dạng của các ngành, các địa phương như: tuyên truyền, nâng cao nhận thức về QCN cho cán bộ, công chức, viên chức, các tầng lớp nhân dân; xây dựng các dịch vụ xã hội thân thiện, dễ tiếp cận; đào tạo nguồn nhân lực cho những vùng khó khăn; hỗ trợ trực tiếp cho các nhóm dễ bị tổn thương trước những hiểm họa như thiên tai, mất mùa, dịch bệnh,...
5. Nhà nước xây dựng và củng cố các thiết chế bảo đảm quyền con người
Theo Hiến pháp năm 1992 và hiện nay là Hiến pháp năm 2013, các thiết chế nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm QCN gồm: Quốc hội; Chính phủ, các cơ quan Tư pháp (Tòa án, Viện kiểm sát), các bộ, ngành có liên quan và chính quyền địa phương các cấp. Những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc đổi mới, kiện toàn tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và đã thu được nhiều thành tựu quan trọng. Hầu hết các cơ quan nhà nước đã được tổ chức, sắp xếp lại theo hướng gọn nhẹ, chuyên môn hóa, hoạt động hiệu quả theo cơ chế phân công và phối hợp trong ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm hạn chế sự lạm dụng quyền, xâm phạm lợi ích hợp pháp của công dân từ phía các cơ quan nhà nước.
Không chỉ hoàn thiện các cơ quan trong tổ chức bộ máy nhà nước, Nhà nước ta còn đặc biệt chú trọng tới việc xây dựng các cơ quan chuyên môn, chuyên trách về QCN như: Ban chỉ đạo Nhân quyền Chính phủ và các địa phương; xây dựng và hoàn thiện tổ chức của các cơ quan chuẩn bị và thực hiện Báo cáo tình hình thực hiện các Công ước quốc tế về QCN mà Việt Nam là quốc gia thành viên.
Bên cạnh việc xây dựng, hoàn thiện tổ chức của Ban chỉ đạo về Nhân quyền, Chính phủ, Nhà nước có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện Báo cáo Nhân quyền trong khuôn khổ Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc cũng như các hoạt động hợp tác quốc tế khác trên lĩnh vực.
Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, ngăn chặn việc lạm dụng quyền lực của các cá nhân, tổ chức trong bộ máy nhà nước, Việt Nam đang nghiên cứu và xúc tiến việc thành lập Ủy ban Nhân quyền quốc gia để theo dõi, giám sát, tư vấn việc thực thi QCN trên các lĩnh vực: ban hành pháp luật; thực thi Hiến pháp, pháp luật; hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; xem xét về tính tương thích của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về QCN;…