1. Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự

Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật không phải là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm mà là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm nếu phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án; là đối tượng của kháng nghị tái thẩm nếu phát hiện có tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định mà toà án không biết được khi ra bản án, quyết định đó.

Bản án sơ thẩm có thể là đối tượng của kháng cáo cũng như kháng nghị phúc thẩm. Quyết định sơ thẩm có thể là đối tượng của kháng cáo cũng như kháng nghị nhưng cũng có thể chỉ là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm. Quyết định sơ thẩm là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm gồm: quyết định tạm đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo; quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo; quyết định khác của toà án cấp sơ thẩm theo quy định của Điều 330, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 như: quyết định của toà án về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh (Khoản 2 Điều 453 Bộ luật tố tụng hình sự). Quyết định sơ thẩm chỉ là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm như: quyết định của toà án về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện, huỷ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện (Xem: Khoản 11 Điều 368 Bộ luật tố tụng hình sự).

2. Chủ thể và phạm vi kháng cáo, kháng nghị

2.1 Chủ thể và phạm vi khảng cáo

Theo quy định tại các điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, thì:

- Bị cáo, người đại diện của bị cáo có quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm. Phạm vi quyền kháng cáo của họ là toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định sơ thẩm có liên quan đến bị cáo. Bị cáo có thể nêu mục đích của việc kháng cáo như: xin giảm hình phạt, thay đổi tội danh nhẹ hơn, giảm mức bồi thường... Người thân thích của bị cáo như cha, mẹ, vợ, chồng, con không được kháng cáo thay cho bị cáo. Trường họp bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì người bào chữa, người đại diện của họ có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích cho họ. Người được toà án tuyên không có tội cũng có quyền kháng cáo về các căn cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định là họ không có tội.

- Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà mình bào chữa. Đây là quyền kháng cáo độc lập của người bào chữa để bảo vệ quyền lợi cho người bị hạn chế về năng lực hành vi tố tụng nên không phụ thuộc vào ý chí của bị cáo đồng ý hay không. Trong trường hợp người bào chữa kháng cáo, bị cáo vẫn có quyền tự kháng cáo.

- Bị hại và người đại diện của họ có quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm. Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện thực hiện quyền kháng cáo; cơ quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó có quyền kháng cáo (khoản 5 Điều 62 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Pháp luật hiện hành không hạn chế hướng kháng cáo của bị hại và người đại diện, họ có thể kháng cáo yêu cầu tăng nặng hoặc giảm nhẹ đối với bị cáo.

- Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự: Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại. Do nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự tham gia tố tụng để giải quyết vấn đề dân sự ứong vụ án hình sự nên quyền kháng cáo của họ hạn chế trong phạm vi phần bản án, quyết định liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.

>> Xem thêm:  Các loại thực nghiệm điều tra ? Mục đích của thực nghiệm điều tra ?

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của bị hại, đương sự: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ. Đây là quyền kháng cáo dộc lập, không phụ thuộc vào ý chí của bị hại, đương sự, không phải do bị hại, đương sự uỷ quyền.

2.2 Chủ thể và phạm vi kháng nghị

Viện kiểm sát cùng cấp với toà án đã ra bản án, quyết định sơ thẩm và viện kiểm sát cấp trên trực tiếp của viện kiểm sát đó có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Việc kháng nghị của viện kiểm sát khi phát hiện ra những sai lầm, thiếu sót của bản án, quyết định sơ thẩm không những là quyền hạn mà còn là trách nhiệm của viện kiểm sát trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử. Viện kiểm sát có thể kháng nghị toàn bộ hay một phần bản án hoặc quyết định đối với tất cả bị cáo và những người tham gia tố tụng khác hay chỉ với một số người. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu toà án giải quyết lại vụ án theo hướng tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình phạt, tăng hay giảm mức bồi thường... cho phù hợp với pháp luật, đường lối, chính sách của Nhà nước và thực tế khách quan của vụ án (Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

Thẩm quyền quyết định kháng nghị thuộc về viện trưởng viện kiểm sát. Khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, phó viện trưởng viện kiểm sát có quyền quyết định kháng nghị. Viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát không được uỷ quyền kháng nghị cho kiểm sát viên.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật hình sự, luật tố tụng hình sự - Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Thực nghiệm điều tra là gì ? Quy định mới về thực nghiệm điều tra