1. Gây tai nạn giao thông người nhà rút đơn thì có khởi tố vụ án nữa không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi 41 tuổi lái xe có tông phải 1 người và làm người đó bị thương, đã được chở luôn đến bệnh viện. Khi giám định thì bị thương tích 63%. Gia đình người đó đã nộp đơn kiện lên tòa án. Sau đó, tôi đã đến xin lỗi và bù đắp cho gia đình người đó 1 khoản tiền và tôi xin gia đình rút đơn khởi kiện.
Người đó đã đồng ý rút đơn khởi kiện. Như vậy khi rút đơn khởi kiện thì tôi có còn bị khởi tố nữa không ?
Cảm ơn!

Gây tai nạn giao thông người nhà không khởi kiện có phải chịu trách nhiệm hình sự?

Luật sư tư vấn bồi thường tai nạn giao thông, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo như bạn trình bày, bạn đi xe và gây ra tan nạn giao thông cho người khác với tỉ lệ thương tích là 63%, như vậy bạn đã vi phạm quy định của pháp luật về việc bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như sau:

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người nào có tham gia giao thông mà gây tai nạn làm thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự, theo đó, khung hình phạt đối với hành vi này là bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Bên cạnh việc chịu trách nhiệm về hình sự theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì bạn còn phải bồi thường cho người bị hại một khoản tiền nhất định. Theo đó, căn cứ theo quy định tại điều 590 BLDS 2015 thì bạn sẽ phải bồi thường cho gia đình người bị hại các khoản sau đây:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại.

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

- Thiệt hại khác do luật quy định.

Theo đó, sau khi tai nạn xảy ra, gia đình người đó đã nộp đơn kiện lên tòa án. Sau đó, bạn đã đến xin lỗi và bù đắp cho gia đình người đó một khoản tiền và tôi xin gia đình rút đơn khởi kiện và người đó đã đồng ý rút đơn khởi kiện. Căn cứ Điều 155 BLTTHS 2015 quy định về các trường hợp khởi kiện vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại như sau:

Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.”

Theo đó, các tội danh quy định được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại bao gồm:

- Điều 134: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

- Điều 135: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.

- Điều 136: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.

- Điều 138: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

- Điều 139: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính.

- Điều 141: Tội hiếp dâm.

- Điều 143: Tội cưỡng dâm.

- Điều 155: Tội làm nhục người khác.

- Điều 156: Tội vu khống.

- Điều 226: Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Như vậy, trường hợp phạm tội thuộc trong những tội danh trên thì mới khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Bạn phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thuộc Điều 260 BLHS, như vậy tội phạm của bạn không thuộc các trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Mặc dù người mà bạn đâm đã rút đơn khởi tố nhưng bạn vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự như bình thường. Do đó, tùy vào mức độ phạm tội của bạn mà bạn có thể truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khung hình phạt được quy định tại BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

>> Xem thêm:  Trách nhiệm bồi thường khi gây ra tai nạn giao thông gồm những gì ?

2. Lái xe ô tô con say rượu đâm chết người có phải ngồi tù không ?

Kính gửi luật sư! Gia đình em vừa gặp một việc hết sức là đau khổ và không biết giải quyết như thế nào, em rất mong luật sư tư vấn giúp em và gia đình. Em xin chân thành cảm ơn! Sự việc như sau:
Ông chủ tịch xã đi xe ô tô con say rượu đi lấn hết phần đường đâm vào em dâu em. Ông ấy đâm vào và bỏ chạy luôn, về nhà cất xe và tắm rửa. mọi người đưa em dâu em đi cấp cứu nhưng đến viện thì không cấp cứu được nữa vì xe đâm mạnh tung người chị lên cao và đập đầu (phần phía sau) xuống đường.
Em muốn hỏi: Nếu giải quyết theo pháp luật thì mức án là bao nhiêu. đền bù cho gia đình người bị hại như thế nào và mức bồi thường với 2 cháu nhỏ là bao nhiêu. Nếu giải quyết tình cảm thì mức án là bao nhiêu. đền bù cho gia đình người bị hại như thế nào và mức bồi thường với 2 cháu nhỏ là bao nhiêu ? Và cụ thể đền bù cho mai táng gồm những phần nào ?
Luật sư cho em biết với em rất mong luật sư tư vấn giúp em xem hướng giải quyết như thế nào là tốt nhất, Em xin chân thành cảm ơn!

Chủ tịch xã đi xe ô tô con say rượu đâm chết người có phải ngồi tù không ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi ngay: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Về trách nhiệm hình sự:

Trường hợp này, người gây tai nạn cho em dâu bạn đã vi phạm quy định về điều khiển an toàn giao thông nên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 như sau:

" 1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:

g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Về bồi thường, theo quy định của pháp luật thì em dâu bạn bị thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phải bồi thường thiệt hại cho em dâu bạn. kKhoản 2 Mục 2 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP quy định về việc xác định thiệt hai do tính mạng bị xâm phạm như sau:

"2. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

2.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1, 1.4 và thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II này.

2.2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...

2.3. Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết.

a) Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng, tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.

Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.

b) Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng.

- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

2.4. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm.

a) Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại.

b) Trường hợp không có những người được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 này, thì người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại.

c) Trong mọi trường hợp, khi tính mạng bị xâm phạm, những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại (sau đây gọi chung là người thân thích) của người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của những người thân thích của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị thiệt hại...

d) Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho tất cả những người thân thích của người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường."

>> Tham khảo bài viết liên quan: Gây tai nạn giao thông chết người có bị khởi tố không?

>> Xem thêm:  Tại sao xe nhỏ đi sai, xe lớn đi đúng khi xảy ra tai nạn giao thông thì xe lớn vẫn phải đền xe nhỏ ?

3. Lái xe bus gây tai nạn có phải chịu trách nhiệm hình sự không ?

Thưa Luật sư, Luật sư cho em hỏi: Trong trường hợp người chạy xe bus gây tai nạn và thiệt hại chiếc xe bus trên 50.000.000đ thì có bị xử lý hình sự về việc gây thiệt hại tài sản của chiếc xe bus do mình điều khiển hay không? Quy định tại văn bản nào ?
Cám ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hình sự, gọi:1900.6162

Luật sư tư vấn:

Hành vi điều khiển phương tiện giao thông gây thiệt hại cho chính phương tiện đang sử dụng thuộc tài sản của pháp nhân có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 180 Bộ luật hình sự năm 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017 ) như sau:

Điều 180. Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

1. Người nào vô ý gây thiệt hại cho tài sản của người khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.

2. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của người khác trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Theo đó, Đây là hành vi của một người tuy thấy trước hành vi đó của mình có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, nhưng cho rằng thiệt hại đó không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được, hoặc nghiêm trọng đến tài sản, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước.

Cấu thành tội phạm này được quy định như sau:

- Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên.

- Khách thể: Quan hệ sở hữu

- Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi dưới dạng hành động hoặc không hành động

Hậu quả: thiệt hại nghiêm trọng (từ 50 triệu đồng trở lên) đến tài sản

- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi vô ý

Tuy nhiên, trên thực tế, việc tham gia điều khiển phương tiện do pháp nhân là chủ sở hữu gây tai nạn bạn thường chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường về việc gây thiệt hại tới tài sản của pháp nhân. Trách nhiệm hình sự được đặt ra đối với hành vi gây thiệt hại thực tế cho người trực tiếp chịu thiệt hại về hành vi vi phạm pháp luật của người điểu khiển phương tiện giao thông theo quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự như sau:

" Điều 260. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:

g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, trong trường hợp này, trách nhiệm hình sự của bạn sẽ được xác định dựa trên kết luận điều tra của cơ quan công an giải quyết vụ việc này.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Rải đinh gây hậu quả nghiêm trọng có bị truy cứu trách nhiệm không ?

>> Xem thêm:  Trường hợp nào cảnh sát giao thông sẽ tạm giữ xe người vi phạm giao thông ?

4. Bị xử phạt thế nào khi điều khiển xe tự chế gây tai nạn ?

Xin luật sư giải đáp giùm em vấn đề như thế này. Gia đình em ở nông thôn, vùng chuyên trồng mía nên có nhiều loại xe tự chế (đầu là xe máy cày có kéo thùng phía sau như xe công nông) để vận chuyển mía từ rẫy ra đường lớn. Khi đang trên đường di chuyển về nhà, không may có 2 người đi xe máy say xỉn, tuy đã nép vào lề nhưng 2 người trên do không kiểm soát được hành vi nên đâm vào sau xe. Sau khi phát hiện, đã nhanh chóng đưa đi bệnh viện nhưng không may một người bị thương quá nặng đã tử vong, một người đã được điều trị trong Sài Gòn.
Bên gia đình đã bồi thường cho gia đình nạn nhân 100 triệu đồng, và lo hậu sự đàng hoàng, chu toàn cho người mất. Đồng thời chăm sóc người bị thương đến giờ đã bình phục. Gia đình nạn nhân đã kí đơn bãi nại.
Vậy cho em hỏi, trong trường hợp trên anh trai em có phải chịu trách nhiệm hình sự gì không? Và mức phạt mà anh trai em có thể phải chịu là như thế nào?
Em chân thành cám ơn ạ!

Lái xe 50 chỗ gây tai nạn làm chết người có bị phạt tù không ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp, anh trai bạn điều khiển xe tự chế trên đường và hai thanh niên đâm vào xe của anh bạn. Theo chúng tôi hiểu, xe của anh bạn là loại xe tự chế, không có kiểm định kỹ thuật, đăng ký theo quy định của pháp luật. Như vậy hành vi điều khiển phương tiện lắp ráp, cải tạo trái quy định. Theo quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính giao thông đường bộ đường sắt:

Điều 19. Xử phạt người điều khiển máy kéo (kể cả rơ moóc được kéo theo), xe máy chuyên dùng vi phạm quy định về điều kiện của phương tiện khi tham gia giao thông

1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:a) Điều khiển xe gắn biển số không đúng vị trí; gắn biển số không rõ chữ, số; gắn biển số bị bẻ cong, bị che lấp, bị hỏng; sơn, dán thêm làm thay đổi chữ, số hoặc thay đổi màu sắc của chữ, số, nền biển;b) Điều khiển xe không có hệ thống hãm hoặc có hệ thống hãm nhưng không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật; điều khiển xe có hệ thống chuyển hướng không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật;c) Điều khiển xe có các bộ phận chuyên dùng lắp đặt không đúng vị trí; không bảo đảm an toàn khi di chuyển;d) Điều khiển xe không có đủ đèn chiếu sáng; không có bộ phận giảm thanh, giảm khói hoặc có nhưng không có tác dụng, không bảo đảm quy chuẩn môi trường về khí thải, tiếng ồn;đ) Điều khiển xe có Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường nhưng đã hết hạn sử dụng dưới 01 tháng (kể cả rơ moóc).

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:a) Điều khiển xe hoạt động không đúng phạm vi quy định;b) Điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng sản xuất, lắp ráp hoặc cải tạo trái quy định tham gia giao thông;c) Điều khiển xe không có Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (đối với loại xe có quy định phải kiểm định, trừ xe đăng ký tạm thời) hoặc có nhưng đã hết hạn sử dụng từ 01 tháng trở lên (kể cả rơ moóc);d) Điều khiển xe không có Giấy đăng ký xe hoặc sử dụng Giấy đăng ký xe đã hết hạn sử dụng (kể cả rơ moóc);đ) Điều khiển xe không gắn biển số (đối với loại xe có quy định phải gắn biển số); gắn biển số không đúng với Giấy đăng ký xe hoặc gắn biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp (kể cả rơ moóc);e) Sử dụng Giấy đăng ký xe, Giấy chứng nhận, tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc bị tẩy xóa; sử dụng Giấy đăng ký xe không đúng số khung, số máy của xe (kể cả rơ moóc).

3. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:a) Thực hiện hành vi quy định tại điểm b khoản 2 Điều này bị tịch thu phương tiện;b) Thực hiện hành vi quy định tại điểm đ khoản 1; điểm b, điểm c, điểm d, điểm đ, điểm e khoản 2 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ khi điều khiển xe máy chuyên dùng) từ 01 tháng đến 03 tháng;c) Thực hiện hành vi quy định tại điểm đ, điểm e khoản 2 Điều này bị tịch thu Giấy đăng ký xe, biển số, Giấy chứng nhận, tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường không đúng quy định hoặc bị tẩy xóa;d) Thực hiện hành vi quy định tại điểm d, điểm e khoản 2 Điều này trong trường hợp không có Giấy đăng ký xe hoặc sử dụng Giấy đăng ký xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, không đúng số khung, số máy của xe hoặc bị tẩy xóa (kể cả rơ moóc) mà không chứng minh được nguồn gốc xuất xứ của phương tiện (không có giấy tờ, chứng từ chuyển quyền sở hữu xe hoặc giấy tờ, chứng từ nguồn gốc xe hợp pháp) thì bị tịch thu phương tiện.

4. Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, người điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm b, điểm c, điểm d khoản 1 Điều này còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc phải lắp đầy đủ thiết bị hoặc thay thế thiết bị đủ tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật hoặc khôi phục lại tính năng kỹ thuật của thiết bị theo quy định.

Theo đó, cả anh trai bạn và cả hai thanh niên kia đều vi phạm pháp luật an toàn giao thông.

Trong trường hợp khi sảy ra tai nạn thì người gây tai nạn phải bồi thường cho người bị hại theo quy định tại Điều 590 BLDS 2015 trong trường hợp sức khỏe bị xâm phạm như sau:

Điều 590. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khoẻ của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Bên cạnh đó cần phải xác định yếu tố lỗi của mỗi bên như thế nào để xác định mức bồi thường bởi theo quy định của pháp luật thì người gây tai nạn sẽ bồi thường theo mức độ lỗi của mỗi bên. Cụ thể như sau:

Theo Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định:

Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

1.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

1.2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

a) Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị xâm phạm sức khoẻ nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức khoẻ bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy định tại khoản 1 Điều 590 BLDS.

>> Xem thêm:  Hỏi về quyền và nghĩa vụ của cảnh sát giao thông ? Trách nhiệm hình sự khi gây tai nạn giao thông

5. Lái xe 50 chỗ gây tai nạn làm chết người có bị phạt tù không ?

Kính chào luật sư, mong luật sư tư vấn giúp gia đình em vấn đề sau: Cha em lái xe ô tô loại 50 chỗ gây tai nạn làm chết một người, cụ thể là: khi đang lưu thông trên đường thì bất ngờ xe 25 chỗ chạy trước bị hỏng bánh xe, mất lái và quay ngang đường, xe 4 chỗ phía sau tông vào xe 25 chỗ, xảy ra quá bất ngờ, không thể xử lý kịp nên xe cha em đã tông vào xe 4 chỗ làm chết một người trên xe 4 chỗ. Em có bị phạt tù không ?
Cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

Chào bạn!, Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty, câu hỏi của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Vì bạn không nói rõ cảnh sát giao thông có khám nghiệm hiện trường hay không? Nếu có thì kết quả khám nghiệm hiện trường như thế nào? Theo kết luận điều tra thì bố bạn có vi phạm luật giao thông hay không? Tuy nhiên, với tình huống của bạn tôi có thể trao đổi với bạn như sau:

5.1. Trình tự giải xử lý việc tai nạn giao thông đường bộ ?

Qúa trình xử lý của cơ quan công an khi xảy ra tai nạn giao thông đường bộ được thực hiện qua các bước cơ bản sau:

- Nhận tin và xử lý tin báo về vụ tai nạn giao thông

- Thực hiện các công việc cần làm ngay khi tới hiện trường vụ tai nạn: tổ chức cấp cứu người bị nạn, kiểm tra phương tiện, giấy tờ của những người liên quan, tổ chức bảo vệ hiện trường, tổ chức giao thông,...

- Khám nghiệm hiện trường (phải lập thành biên bản); phương tiện giao thông liên quan đến vụ tai nạn; cầu, đường, bến phà liên quan đến tai nạn giao thông; thân thể người bị nạn

- Báo cho gia đình hoặc cơ quan, đơn vị người bị nạn

- Tạm giữ phương tiện giao thông, người điều khiển phương tiện giao thông có liên quan

- Dựng lại hiện trường

- Ghi lời khai

- Giám định chuyên môn

- Đánh giá sơ bộ tỉ lệ thương tật của người bị nạn

- Xem xét kết quả điều tra và quyết định về việc giải quyết vụ tai nạn giao thông

Theo như quy trình ở trên thì hiện nay muốn biết là bố bạn có phải chịu trách nhiệm về việc tai nạn này không phải dựa vào biên bản điều tra của bên cảnh sát giao thông xác định bố bạn có lỗi hay không.

5.2 Trường hợp Cảnh sát giao thông xác định có lỗi :

Nếu mà bố bạn có hành vi vi phạm giao thông mà gây tai nạn dẫn đến chết người thì khi đó bố bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm các quy định về điều khiển giao thông đường bộ, ngoài ra bố bạn còn phải chịu trách nhiệm bồi thường theo pháp luật về dân sự.

Tại điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định như sau:

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng...

Ngoài việc chịu trách nhiệm hình sự thì bố bạn còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người nhà nạn nhân.

Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định vềthiệt hại do tính mạng bị xâm phạm:

“1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

Tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP có hướng dẫn cụ thể về cách tính thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm như sau:

- Chi phí hợp lý là chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp với giá trung bình ở từng địa phương tại thời điểm chi phí.

Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sĩ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sĩ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: Các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...

Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.

5.​3 Trường hợp cảnh sát giao thông kết luận không có lỗi:

Trường hợp bố bạn không có lỗi trong việc gây ra thiệt hại cũng như không có lỗi của nguồn nguy hiểm cao độ là xe gây ra thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trên. Ngoài ra cũng không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vì trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ xảy ra khi phát sinh lỗi của người gây thiệt hại.

​Theo quy định của điều luật trên, trường hợp của bạn như sau:

- Nếu như bố bạn vi phạm giao thông quy định về an toàn giao thông đường bộ, thì bố bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người nhà nạn nhân.

- Nếu như bố bạn đi đúng quy định về an toàn giao thông đường bộ, thì bố bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như không phải chịu trách nhiệm dân sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật MInh Khuê

>> Xem thêm:  Trình tự giải quyết tai nạn, va chạm giao thông được thực hiện thế nào ?