1.Thẩm quyền

Khi các bên muốn giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài, các bên phải thể hiện ý chí này bằng thoả thuận trọng tài. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, thoả thuận trọng tài phải bằng văn bản. Văn bản được hiểu là sự trao đổi giữa các bên, có thể do một bên đề xuất và bên kia không phản đối. Thoả thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh. Khi các bên trong tranh chấp có thoả thuận trọng tài và một bên gửi đơn kiện ra toà án, toà án phải từ chối vì không có thẩm quyền, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được. Theo pháp luật hiện hành, các bên có thể thoả thuận hình thức trọng tài (‘thiết chế’ hay ‘vụ việc’), ngôn ngữ xét xử, địa điểm xét xử (ở Việt Nam hay nước ngoài) cũng như thủ tục trọng tài trong trường hợp trọng tài ‘vụ việc’.

2.Các nguyên tắc 

Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Các bên có thể tự mình tham gia quá trình giải quyết tranh chấp hoặc ủy quyền cho người đại diện tham dự; các bên có quyền mời nhân chứng và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hội đồng trọng tài cho phép người khác tham dự quá trình xét xử, nếu các bên đồng ý. Ngôn ngữ sử dụng trong xét xử bằng trọng tài do các bên thoả thuận. Nếu các bên không có thoả thuận, thì hội đồng trọng tài sẽ quyết định ngôn ngữ được sử dụng trong quá trình xét xử. Hội đồng trọng tài sẽ ra phán quyết trên cơ sở biểu quyết theo nguyên tắc đa số. Nếu biểu quyết không đạt được đa số thì phán quyết trọng tài được lập theo ý kiến của chủ tịch hội đồng trọng tài.

3.Thủ tục trọng tài

Một bên sẽ gửi đơn kiện bằng văn bản tới trung tâm trọng tài trong trường hợp trọng tài được sử dụng là trọng tài thiết chế, hoặc gửi tới bên bị kiện trong trường hợp trọng tài được sử dụng là trọng tài ‘vụ việc’. Trừ trường hợp có thoả thuận khác giữa các bên, hoặc thủ tục trọng tài của trung tâm trọng tài có quy định khác, trong thời gian mười ngày kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện cùng các tài liệu kèm theo và chứng từ tạm ứng phí trọng tài, trung tâm trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn khởi kiện của nguyên đơn và những tài liệu kèm theo. Bị đơn có quyền kiện lại nguyên đơn về những vấn đề liên quan đến tranh chấp. Đơn kiện lại của bị đơn phải gửi cho trung tâm trọng tài. Trong trường hợp trọng tài được sử dụng là trọng tài ‘vụ việc’, thì đơn kiện lại phải được gửi cho hội đồng trọng tài và bị đơn. Đơn kiện lại phải được nộp cùng thời điểm với bản tự bảo vệ. Hội đồng trọng tài gồm một hoặc nhiều trọng tài viên, tùy theo sự thoả thuận của các bên. Nếu các bên không thoả thuận về số lượng trọng tài viên, thì hội đồng trọng tài sẽ gồm ba trọng tài viên. Phán quyết trọng tài phải bằng văn bản. Phán quyết trọng tài được gửi đến các bên ngay sau ngày ban hành. Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực pháp luật ngay từ ngày ban hành.

4.Cưỡng chế thi hành

Các bên tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài. Hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành, và cũng không yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật, thì bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài. E. Phán quyết của trọng tài nước ngoài

 Việc cưỡng chế thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài chỉ có thể thực hiện được khi toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việt Nam là thành viên của Công ước Niu Y-oóc từ năm 1995, do đó, theo Công ước, phán quyết của trọng tài của bất kì một nước thành viên nào của Công ước cũng sẽ được thi hành tại Việt Nam và ngược lại. Đối với những nước không phải thành viên của Công ước và không tham gia các hiệp định song phương có liên quan với Việt Nam, thì phán quyết của trọng tài phải được công nhận và thi hành trên cơ sở có đi có lại và sự công nhận này phải không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam được quy định từ Điều 364 đến Điều 374 Bộ luật tố tụng dân sự. Theo đó, đơn xin công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam phải được gửi lên Bộ tư pháp Việt Nam. Đơn viết bằng tiếng nước ngoài phải được dịch sang tiếng Việt và có hợp pháp hoá lãnh sự. Trong thời gian 7 ngày kể từ ngày nhận được đơn và các chứng từ kèm theo, Bộ tư pháp sẽ chuyển đơn và các tài liệu này cho toà án nhân dân cấp tỉnh. Trong vòng ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ từ Bộ tư pháp, toà án có thẩm quyền phải thụ lí và thông báo cho các bên phải thi hành và viện kiểm sát cùng cấp biết. Trong thời hạn hai tháng kể từ ngày thụ lí, toà án có thẩm quyền sẽ đưa ra một trong các quyết định sau, tùy từng trường hợp cụ thể: (i) Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu, trong trường hợp nhận được thông báo bằng văn bản của Bộ tư pháp về việc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đang xem xét quyết định của trọng tài nước ngoài; (ii) Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu, nếu bên phải thi hành phán quyết tự nguyện thi hành phán quyết, hoặc bên được thi hành là tổ chức bị giải thể hoặc phá sản, mà quyền và nghĩa vụ của bên được thi hành này đã được giải quyết theo quy định của pháp luật, hoặc cá nhân phải thi hành đã chết mà quyền và nghĩa vụ của cá nhân này không được thừa kế; (iii) Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu, trong trường hợp nhận được thông báo bằng văn bản của Bộ tư pháp về việc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài; (iv) Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả lại hồ sơ cho Bộ tư pháp, trong trường hợp không đúng thẩm quyền, hoặc bên phải thi hành phán quyết không có trụ sở tại Việt Nam, hoặc không xác định được địa điểm nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành tại Việt Nam; (v) Mở phiên họp xét đơn yêu cầu.

5.Toà án và phán quyết trọng tài ở Việt Nam

>> Xem thêm:  Mẫu đơn khiếu nại giải quyết tranh chấp đất đai mới nhất năm 2022

Toà án có quyền hủy phán quyết trọng tài, nếu một bên có đầy đủ bằng chứng chứng minh rằng không có thoả thuận trọng tài, hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu, hoặc thành phần của hội đồng trọng tài, hoặc thủ tục xét xử trọng tài không đúng theo thoả thuận của các bên hoặc trái với quy định của pháp luật, hoặc tranh chấp không thuộc phạm vi thẩm quyền của trọng tài, hoặc bằng chứng do các bên cung cấp làm cơ sở ban hành phán quyết của trọng tài là giả, hoặc phán quyết của trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Ý nghĩa của việc phân loại tranh chấp thương mại

Thứ nhất, về tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại (lĩnh vực thương mại phổ biến): Các tranh chấp này rất dễ nhầm với các tranh chấp dân sự thông thường trong cùng lĩnh vực. Sự khác biệt với tranh chấp dân sự thông thường trong cùng lĩnh vực thể hiện ở hai yếu tố: (i) Chủ thể: Đối với tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại, các bên tranh chấp đều có đăng ký kinh doanh, còn đối với tranh chấp dân sự, chủ thể tham gia không bắt buộc đăng ký kinh doanh; (ii) Mục đích tham gia giao dịch: Đối với tranh chấp thương mại, các bên tranh chấp đều có mục đích tìm kiếm lợi nhuận, còn đối với tranh chấp dân sự, không cần yêu cầu các bên phải có mục đích lợi nhuận. Ví dụ, tranh chấp thương mại trong lĩnh vực mua bán hàng hóa là tranh chấp về việc mua bán hàng hóa giữa bên bán và bên mua, trong đó, bên bán và bên mua đều có đăng ký kinh doanh và đều nhằm mục đích lợi nhuận qua việc mua bán hàng hóa đó.

Thứ hai, về tranh chấp trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận: Chúng ta có thể lấy một ví dụ giả định như sau: Công ty A (bên chuyển giao) ký một hợp đồng chuyển giao công nghệ với công ty B (bên nhận chuyển giao), theo đó, bên chuyển giao cam kết không chuyển giao công nghệ nêu trong hợp đồng cho bên thứ ba trong phạm vi lãnh thổ quy định trong hợp đồng; bên nhận chuyển giao cam kết bảo đảm chất lượng sản phẩm sản xuất theo công nghệ nhận chuyển giao không thấp hơn chất lượng sản phẩm do bên chuyển giao sản xuất.

Thứ ba, tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty, chúng ta có thể khẳng định, không có tranh chấp dân sự về vấn đề này.

Thứ tư, tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, tổ chức lại doanh nghiệp (giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách), bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty, thì có thể khẳng định rằng, không có tranh chấp dân sự về vấn đề này. Về tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, tổ chức lại doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty, thì đây là tranh chấp thương mại.

Một vấn đề phức tạp hơn là nhận diện các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài và các tranh chấp thương mại không có yếu tố nước ngoài. Tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài là tranh chấp thương mại có ít nhất một trong ba yếu tố nước ngoài sau: (i) Yếu tố nước ngoài về mặt chủ thể, đó là trường hợp một bên hoặc các bên quan hệ có quốc tịch hoặc nơi cư trú ở nước ngoài (đối với pháp nhân - nơi có trụ sở ở nước ngoài); (ii) Yếu tố nước ngoài về mặt khách thể, đó là trường hợp tài sản - đối tượng của quan hệ ở nước ngoài; (iii) Yếu tố nước ngoài về mặt sự kiện pháp lý, đó là trường hợp sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài.

Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)