1.Các trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

>> Xem thêm: Thủ tục tố tụng tư pháp là gì ? Tìm hiểu về thủ tục tố tụng tư pháp ?

Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

1. Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;

2. Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó;

3. Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

- Người giám định phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp sau: Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo; đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người phiên dịch, người dịch thuật, người định giá tài sản trong vụ án đó; đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó (Khoản 5 Điều 68 BLTTHS 2015).

- Người định giá tài sản phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp: Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo; đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó; đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó (Khoản 5 Điều 69 BLTTHS 2015).

2. Quy định về giải quyết việc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án

>> Xem thêm: Thủ tục tố tụng tư pháp là gì ? Tìm hiểu về thủ tục tố tụng tư pháp ?

Tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:

“Điều 302. Giải quyết việc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật

Chủ tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem họ có đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật hay không, lý do của việc đề nghị thay đổi. Nếu có người đề nghị thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.”

Như vậy, hoạt động giải quyết đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án được thực hiện sau khi khai mạc phiên tòa. Chủ tọa phiên tòa sẽ hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa như bị cáo, người bào chữa của bị cáo, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, … xem họ có đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên và Thư ký Tòa án hay không. Nếu trường hợp các cá nhân này đề nghị thay đổi thì cần hỏi rõ lý do thay đổi là gì. Việc quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án tại phiên tòa sẽ do Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

3. Thẩm phán, Hội thẩm bị thay đổi khi nào?

>> Xem thêm: Đối chứng là gì ? Để thực hiện đối chứng, cơ quan tiến hành tố tụng cần tiến hành việc đối chất như thế nào?

Tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:

“Điều 53. Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm

1. Thẩm phán, Hội thẩm phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;

b) Họ cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau;

c) Đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc tiến hành tố tụng vụ án đó với tư cách là Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án.

2. Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm trước khi mở phiên tòa do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án được phân công giải quyết vụ án quyết định.

Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì do Chánh án Tòa án trên một cấp quyết định.

Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách biểu quyết tại phòng nghị án. Khi xem xét thay đổi thành viên nào thì thành viên đó được trình bày ý kiến của mình, Hội đồng quyết định theo đa số.

Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.”

Như vậy, các trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải bị thay đổi khi họ đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo; hoặc họ đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó hoặc trong trường hợp có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Bên cạnh đó, Thẩm, phán, Hội thẩm nhân dân còn bị thay đổi khi Thẩm phán, Hội thẩm cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau hoặc họ đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc tiến hành tố tụng vụ án đó với tư cách là Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án.

Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách biểu quyết tại phòng nghị án. Khi xem xét thay đổi thành viên nào thì thành viên đó được trình bày ý kiến của mình, Hội đồng quyết định theo đa số. Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.

Tại Điều 288 quy định như sau:

“Trường hợp có Thẩm phán, Hội thẩm không tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết tham gia phiên tòa từ đầu thì những người này được thay thế làm thành viên Hội đồng xét xử. Trường hợp Hội đồng xét xử có hai Thẩm phán mà Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không tiếp tục tham gia xét xử được thì Thẩm phán là thành viên Hội đồng xét xử làm chủ toạ phiên tòa và Thẩm phán dự khuyết được bổ sung làm thành viên Hội đồng xét xử.

3. Trường hợp không có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết để thay thế hoặc phải thay đổi chủ tọa phiên tòa mà không có Thẩm phán để thay thế theo quy định tại khoản 2 Điều này thì phải hoãn phiên tòa.”

Như vậy, thì trường hợp thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm mà có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết tham gia phiên tòa từ đầu thì những người này được thay thế làm thành viên Hội đồng xét xử thì phiên hòa được tiến hành bình thường. Nếu không có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết để thay thế hoặc phải thay đổi chủ tọa phiên tòa mà không có Thẩm phán để thay thế thì phải hoãn phiên tòa.

4. Kiểm sát viên bị thay đổi khi nào?

>> Xem thêm: Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

” Điều 52. Thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên

1. Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;

b) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên hoặc Thư ký Tòa án.

2. Việc thay đổi Kiểm sát viên trước khi mở phiên tòa do Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp được phân công giải quyết vụ án quyết định.

Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.

Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.”

Có thể thấy, tương tự trong trường hợp thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm thì Kiểm sát viên bị thay đổi khi bị thay đổi khi họ đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo; hoặc họ đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó hoặc trong trường hợp có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Ngoài ra, trong trường hợp Kiểm sát viên đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên hoặc Thư ký Tòa án cũng bị thay đổi.

Hoạt động thay đổi kiểm sát viên có thể được thực hiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa xét xử. Theo đó, việc thay đổi Kiểm sát viên trước khi mở phiên tòa do Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp được phân công giải quyết vụ án quyết định. Trong trường hợp kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.

Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa. Bên cạnh đó, tại Khoản 2 Điều 298 còn quy định “Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa.” Như vậy, trong trường hợp có Kiểm sát viên dự khuyết thì phiên tòa sẽ tiếp tục được tiến hành, còn nếu không có thẩm phán dự khuyết thì phải hoãn phiên tòa.

5. Về quyền đề nghị thay đổi tại Điều 302 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

>> Xem thêm: Thủ tục tố tụng là gì ? Quy định pháp luật về thủ tục tố tụng

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ra đời là một bước tiến quan trọng trong việc xây dựng pháp luật nói chung và trong việc pháp điển hóa các quy định về tố tụng hình sự ở nước ta nói riêng, khắc phục những hạn chế, tồn tại của BLTTHS cũ. Trước đây, BLTTHS năm cũ quy định việc giải quyết đề nghị thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký tòa án, người giám định, người phiên dịch (gọi tắt là quyền đề nghị thay đổi) tại Điều 202 như sau: “Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng phải được chủ tọa phiên tòa hỏi xem họ có đề nghị thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký tòa án, người giám định, người phiên dịch hay không. Nếu có người yêu cầu thì hội đồng xét xử xem xét và quyết định”.

Kế thừa BLTTHS năm cũ, BLTTHS năm 2015 đã hoàn thiện và phát triển cụ thể quy định giải quyết đề nghị thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký tòa án, người giám định, người phiên dịch trong quá trình giải quyết vụ án tại Điều 302 như sau: “Chủ toạ phiên tòa phải hỏi kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem họ có đề nghị thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật hay không, lý do của việc đề nghị thay đổi. Nếu có người đề nghị thì hội đồng xét xử xem xét, quyết định”.

So với BLTTHS năm cũ thì BLTTHS năm 2015 có một số điểm mới, cụ thể: Nếu như BLTTHS năm cũ quy định tại phiên tòa sơ thẩm, kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng được chủ tọa phiên tòa hỏi xem họ có đề nghị thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký tòa án, người giám định, người phiên dịch hay không; BLTTHS năm 2015 quy định chủ tọa phiên tòa hỏi kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem họ có đề nghị thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật hay không, trình bày lý do của việc đề nghị thay đổi. Tức là người có quyền đề nghị thay đổi cần phải đưa ra tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc đề nghị thay đổi của mình là có căn cứ. Trên cơ sở yêu cầu thay đổi và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có) của người có quyền đề nghị thay đổi thì hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của họ. Quyền đề nghị thay đổi tại Điều 302 BLTTHS năm 2015 quy định những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có thể được hiểu, bao gồm: bị cáo; bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; người bào chữa; người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là có phải tất cả những tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa được liệt kê ở trên có quyền đề nghị thay đổi tại Điều 302 BLTTHS năm 2015 hay không, bởi lẽ như sau:

Thứ nhất, đối chiếu quy định tại Điều 302 BLTTHS năm 2015 với các quy định về quyền và nghĩa vụ của bị cáo; bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; người bào chữa; người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự tại Chương IV của BLTTHS năm 2015, tác giả nhận thấy quyền đề nghị thay đổi chỉ đặt ra đối với các trường hợp sau đây:

Một là, đối với bị cáo thì quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 61 BLTTHS năm 2015. Theo đó, bị cáo có quyền: đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị triệu tập người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người giám định, người định giá tài sản, người tham gia tố tụng khác và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tham gia phiên tòa.

Hai là, đối với bị hại thì quyền đề nghị thay đổi được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 2015. Theo đó, bị hại có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật.

Ba là, đối với nguyên đơn dân sự thì quyền đề nghị thay đổi được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 63 BLTTHS năm 2015. Theo đó, nguyên đơn dân sự có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật.

Bốn là, đối với bị đơn dân sự thì quyền đề nghị thay đổi được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 64 BLTTHS năm 2015. Theo đó, bị đơn dân sự có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật.

Năm là, đối với người bào chữa thì quyền đề nghị thay đổi được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 73 BLTTHS năm 2015. Theo đó, người bào chữa có quyền: đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.

Sáu là, đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự thì quyền đề nghị thay đổi được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 84 BLTTHS năm 2015. Theo đó, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật.

Thứ hai, những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa hình sự sơ thẩm tại Điều 302 BLTTHS năm 2015 được hiểu, bao gồm: bị cáo; bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng; người bào chữa; người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự… Tuy nhiên, quyền đề nghị thay đổi tại Điều 302 BLTTHS năm 2015 không quy định đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại Điều 65, Điều 66 BLTTHS năm 2015. Quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quy định tại khoản 2 Điều 65 như sau: đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; tham gia phiên tòa; phát biểu ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa. Quyền của người làm chứng được quy định khoản 3 Điều 66 như sau: yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia làm chứng; được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật.

Qua đó, có thể hiểu nếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng có mặt tại phiên tòa sơ thẩm có yêu cầu đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng,người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa thì sẽ không được hội đồng xét xử chấp nhận vì tại Điều 65, Điều 66 không quy định quyền này đối với họ.

Như vậy, giữa Điều 65, Điều 66 với Điều 302 BLTTHS năm 2015 có sự mâu thuẫn và chồng chéo nhau trong thực tiễn xét xử. Đó là việc những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa (bao gồm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng) có được quyền đề nghị thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật hay không? Do đó, để bảo đảm sự thống nhất giữa các điều luật, theo tác giả cần bổ sung quy định Điều 302 của BLTTHS năm 2015 như sau: “Chủ tọa phiên tòa phải hỏi kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền đề nghị thay đổi xem họ có đề nghị thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật hay không, lý do của việc đề nghị thay đổi. Nếu có người đề nghị thì hội đồng xét xử xem xét, quyết định”.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê