1. Giải quyết vụ việc lừa đảo buôn bán hàng qua mạng xã hội ?

Chào Luật sư! Luật sư giúp em với ạ. Em có đặt mua hàng trên mạng 200 đôi giầy trên 1 nick facebook tên là hoàng thùy. Họ bắt em đặt cọc trước 20 triệu. Họ hẹn 2 ngày sau là hàng sẽ về tới nhà em.
Em đã chuyển khoản 2 triệu vào tài khoản này TK: 05005xxxxxxx Phạm Văn Nam sacombank Bình Dương 02-Nguyễn Chí Thanh, An Thành, Bến Cát, Bình Dương. Ba hôm sau em không nhận được hàng. Em có hỏi những người đã mua hàng với bên bán đó, họ bảo em bị lừa. Số điện thoại gọi thì thuê bao không liên lạc được. Bây giờ em phải làm sao. Em chỉ có tờ giấy chuyển khoản tiền và đoạn facebook nói chuyện thôi ?
Em mong được anh/chị giúp đỡ đưa ra cách giải quyết tốt nhất trong trường hợp này. Em xi nchaan thành cảm ơn Luật sư!
Người gửi: K.P

>> Luật sư tư vấn Luật Dân sự số : 1900.6162

Trả lời:

1. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Căn cứ vào thông tin mà bạn cung cấp chúng tôi xác định được hành vi vi phạm của bên bán thuộc vào tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

2. Phân tích tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Tội này được cấu thành cụ thể như sau:
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản
- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối
Khách thể
Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác
Mặt chủ quan Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý
Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định. Ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản, thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng ( như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản). Hay nói cách khác là ngừoi phạm tội có mục đích là chiếm đoạt tài sản và bằng hành vi gian dối của họ.

3. Phương án giải quyết hành vi lừa đảo:

Theo như quy định đã nêu ở trên thì trong trường hợp của bạn, bên bán đã sử dụng thông tin tài khoản ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản, giá trị tài sản là 20.000.000 đồng, để bảo vệ quyền lợi của mình, bạn nên làm đơn trình báo lên công an điều tra cấp quận/huyện để được giải quyết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Xử lý hành vi lừa dối trong góp vốn kinh doanh ? Mẫu đơn tố cáo tội lừa đảo

2. Lừa đảo việc trúng thưởng thì giải quyết như thế nào?

Thưa luật sư! Chiều ngày 17 tháng 9 năm 2013, Đ cùng C đang ngồi uống nước thì có một em bé mời mua vé số. C lấy 15.000 đồng mua 3 tờ vé số, Đ cũng mua 3 vé. Sáng hôm sau khi C dò vé số biết trúng thưởng, C mời Đ đi khao. Đ nảy sinh ý định xấu nên đã cố tình chuốc cho C say rồi lấy 3 vé số trúng thưởng trong túi quần C và thay vào đó là 3 vé xổ số không trúng thưởng của mình. Giá trị mỗi vé trúng thưởng là 100 triệu đồng. Đ đã đi nhận.
Chiều ngày 17 tháng 9 năm 2013, Đ cùng C đang ngồi uống nước thì có một em bé mời mua vé số. C lấy 15.000 đồng mua 3 tờ vé số, Đ cũng mua 3 vé. Sáng hôm sau khi C dò vé số biết trúng thưởng, C mời Đ đi khao. Đ nảy sinh ý định xấu nên đã cố tình chuốc cho C say rồi lấy 3 vé số trúng thưởng trong túi quần C và thay vào đó là 3 vé xổ số không trúng thưởng của mình. Giá trị mỗi vé trúng thưởng là 100 triệu đồng. Đ đã đi nhận thưởng số tiền trên tại công ty xổ số tỉnh X. C rất bức xúc và yêu cầu Đ trả lại số tiền trúng thưởng vì C nghi ngờ việc Đ đánh tráo vé số của C nhưng Đ kiên quyết từ chối và nói do C xem nhầm. C gửi đơn đề nghị cơ quan công an điều tra và vụ việc được xác định đúng như đã nêu trên.
Hỏi:

1. Hành vi của Đ cấu thành tội gì? Tại sao?

2. Tội phạm mà Đ thực hiện có cấu thành vật chất hay hình thức? Tại sao?

3. Hãy xác định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội mà Đ đã thực hiện.

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Hành vi của Đ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 Bộ luật hình sự sửa đổi 2009:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Có tính chất chuyên nghiệp;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

Đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

E) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

G) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân :

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

-Về chủ thể của tội phạm: trong trường hợp này ta coi như Đ đã đủ điều kiện về tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự.

- Khách thể của tội phạm: Quan hệ sở hữu đối với tài sản, trong tình huống này thì khách thể tội phạm do Đ thực hiện là quan hệ sở hữu của C với tài sản là 3 tấm vé số trúng thưởng, mỗi tấm trị giá 100 triệu, tức là 300 triệu đồng.

+ Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Về dấu hiệu pháp lý tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được định nghĩa là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối.

+ Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản: gồm hai hành vi khác nhau đó là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt . Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật. Cụ thể trong trường hợp này, Đ đã có hành vi lừa dối C, khi biết tấm vé số trúng thưởng Đ đã tráo tấm vé của C và Đ đã đi nhận thưởng . Hành vi gian dối thứ hai là khi C nghi ngờ việc Đ đánh tráo vé số của C nhưng Đ kiên quyết từ chối và nói do C xem nhầm. Đ đã cố tình đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa C.

Hình thức của hành vi lừa dối: hành vi lừa dối ở trong trường hợp này thể hiện qua hành động, Đ cố tình chuốc cho C say rồi lấy 3 vé số trúng thưởng trong túi quần C và thay vào đó là 3 vé xổ số không trúng thưởng của mình

+ Hành vi chiếm đoạt : Trong trường hợp này, tài sản bị chiếm hữu giờ đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội, ở đây là Đ, Đ đã lấy tài sản là phần thưởng trị giá 300 triệu do đã tráo tấm vé số của C lúc C bị chuốc say. Trường hợp này, tội phạm hoàn thành ngay khi Đ chuốc say cho C và lấy vé số đi nhận thưởng. Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối.

+ Hậu quả: Hậu quả do hành vi của Đ gây ra là những thiệt hại cho quan hệ sở hữu thể hiện dưới dạng thiệt hại về vật chất, ở đây là C đã bị mất số tiến là 300 triệu mà lẽ ra C phải được hưởng do bỏ tiền ra mua vé số.

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Quan hệ nhân quả là dạng của mối liên hệ giữa các hiện tượng, trong đó hiện tượng được gọi là nguyên nhân với những điều kiện nhất định đã làm phát sinh hiện tượng khác gọi là kết quả. Hành vi chiếm đoạt tài sản trị giá 300 triệu là kết quả của hành vi lừa dối, hành vi chiếm đoạt xảy ra ngay khi hành vi lừa dối được hoàn thành.

- Mặt chủ quan của tội phạm: Đ đã đưa ra thông tin giả là C đã nhầm lẫn tấm vé không trúng thưởng với mục đích là để C tin đó là sự thật và từ bỏ quyền sở hữu của mình với tấm vé số.( tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ xảy ra khi tấm vé số đã trúng thưởng, còn khi tấm vé số không trúng thưởng thì giá trị của tấm vé số không đủ để cấu thành tội, luật quy định phải từ 500000đ trở lên, trong khi 3 tờ vé có giá là15000đ). Đ đã đưa ra thông tin giả để C tin đó là sự thật.

+ Động cơ và mục đích phạm tội: Trường hợp này, động cơ và mục đích phạm tội của Đ có tính chất tư lợi, lấy tiền để phục vụ nhu cầu cá nhân của mình.

+ Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội biết mình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản, ở đây Đ đã có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản, Đ đã có chủ tâm chiếm đoạt tài sản của C và hành động để biến mục đích của mình được thực hiện.

- Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hậu quả phát sinh, hậu quả của hành vi phạm tội mà người phạm tội đã thấy trước hoàn toàn phù hợp với mục đích, ở đây là mong muốn chiếm được 300 triệu của Đ, và hậu quả xảy ra đúng với mục đích của Đ.

- Về lý trí: Ở đây Đ nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình và thấy trước được hậu quả của hành vi phạm tội của mình.

=> Từ những căn cứ pháp lý và các dấu hiệu của tội phạm nêu trên, ta kết luận hành vi của Đ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139, bộ luật hình sự.

2. Về cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức ( CTTP vật chất và CTTP hình thức)

Để có thể xác định tội mà Đ thực hiện mà ở đây là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có cấu thành vật chất hay hình thức thì ta căn cứ vào những đặc điểm của cấu thành tội vật chất và hình thức để phân biệt:

- CTTP vật chất là CTTP có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Đối với dấu hiệu hậu quả (và cùng với nó là dấu hiệu mối quan hệ nhân quả) ở loại CTTP này lại được quy định theo hai mức độ khác nhau:

+ Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để xác định tội phạm hoàn thành. Ở loại CTTP này, nhà làm luật không trực tiếp đưa dấu hiệu hậu quả vào trong CTTP mà hậu quả được quy định gián tiếp thông qua cách quy định về hành vi phạm tội.

+ Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để định tội. Ở dạng CTTP này, nhà làm luật trực tiếp đưa hậu quả vào các quy định của CTTP với ý nghĩa là điều kiện xác định những trường hợp thoả mãn CTTP của loại tội đó, loại trừ những trường hợp hành vi không cấu thành tội phạm.

=> Cấu thành tội phạm vật chất là CTTP có các dấu hiệu của mặt khách quan gồm hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả.

- Cấu thành tội phạm hình thức là CTTP có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội. CTTP hình thức là CTTP chỉ có một dấu hiệu của mặt khách quan được mô tả trong CTTP là dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội. Trong CTTP hình thức không có dấu hiệu hậu quả cũng như quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Do đặc điểm của CTTP hình thức như vậy mà quan hệ tâm lí của người phạm tội với các dấu hiệu của tội phạm có CTTP hình thức có điểm khác căn bản so với tội phạm có CTTP vật chất.

Căn cứ vào những khái niệm và đặc điểm của CTTP nêu trên, ta có thể khẳng định tội mà Đ phạm phải (lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 bộ luật hình sự) có CTTP vật chất. Ta thấy ở mặt khách quan của tội mà Đ phạm, có đầy đủ dấu hiệu như hành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.

Không thể khẳng định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có cấu thành hình thức vì CTTP hình thức chỉ xét đến hành vi, lỗi đã là lỗi cố ý trực tiếp, xét riêng hành vi đã thấy được hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mặc dù hậu quả có thể xảy ra hay không xảy ra vì những điều kiện khách quan. Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mặc dù lỗi cũng là lỗi cố ý trực tiếp nhưng phải tính đến yếu tố “chiếm đoạt tài sản”, nghĩa là xảy ra hậu quả tài sản bị chiếm đoạt thì mới định tội danh được, hành vi lừa dối trong trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện là nhằm thực hiện việc chiếm đoạt. Những hành vi lừa dối nhằm mục đích khác dù mục đích này có tính tư lợi cũng không phải là hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Vậy tội phạm mà Đ thực hiện có cấu thành vật chất.

3. Về khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của Đ

Với hành vi chiếm đoạt tấm vé số của C với tổng số tiền là 300 triệu đồng, khung hình phạt đối với Đ thuộc điểm a khoản 3 điều 139 luật hình sự sửa đổi năm 2009: "Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng" thì Đ sẽ bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

3. Trách nhiệm dân sự và cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Chào luật sư tôi xin được tư vấn 1 việc như sau: em gái tôi mở công ty năm 2013 ( trước khi lấy chồng), vốn điều lệ 9 tỷ. Và do tôi điều hành, hoạt động kinh doanh. Em gái tôi không tham gia hoạt động, chỉ đứng tên trên giấy tờ.
Năm 2014, em gái tôi lấy chồng chồng em gái tôi mở 1 công ty chuyên về may mặc và đã huy động vay vốn rất nhiều dưới nhiều hình thức, góp vốn, vay nặng lãi. Em gái tôi cũng đứng ra vay cho chồng làm ăn 1,2 tỷ đến 1/3/2017 chồng em gái tôi bị vỡ nợ 6 tỷ các con nợ kéo đến yêu cầu viết giấy tờ nhận nợ. Trong lúc không bình tĩnh em gái tôi đã đứng ra ký giấy nhận nợ dưới hình thức nhận tiền xin việc 820 triệu. Trong vòng 1 tháng phải trả lại nếu không xin được việc cho họ. Ngoài ra em gái tôi cùng ký vào các giấy tờ nhận nợ khác cùng chồng. Bố chồng hiện tại của em gái tôi không có khả năng trả nợ ? Em tôi đang có bầu 4 tháng cho tôi hỏi:
+ Nếu đưa ra pháp luật em gái tôi có bị đi tù về tội lừa đảo không? + công ty do em gái tôi đứng tên có bị điều tra không ?
+ Tôi muốn làm giấy dừng hoạt động kinh doanh của công ty em gái tôi đứng tên cần làm những thủ tục gì ?
Rất mong luật sư tư vấn xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

- Về việc em gái bạn có bị đi tù về tội lừa đảo hay không ?

Căn cứ khoản 1 điều 147 Bộ luật hình sự 2015 :

"Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm..."

Có thể thấy, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ được xác định khi có thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác thuộc những trường hợp pháp luật quy định. Tuy nhiên trong trường hợp của bạn, em gái bạn thực hiện các hoạt động vay vốn kinh doanh có hợp đồng có căn cứ đầy đủ thì không thuộc trường hợp này. Cho dù em bạn đến thời điểm hiện tại không có khả năng trả trợ thì đó cũng chỉ là sự vi phạm hợp đồng dân sự.

- Về việc muốn làm giấy dừng hoạt động kinh doanh của công ty em gái bạn đứng tên cần làm những thủ tục gì ?

Điều 200 ( luật doanh nghiệp 2014). Tạm ngừng kinh doanh

1. Doanh nghiệp có quyền tạm ngừng kinh doanh nhưng phải thông báo bằng văn bản về thời điểm và thời hạn tạm ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh cho Cơ quan đăng ký kinh doanh chậm nhất 15 ngày trước ngày tạm ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh. Quy định này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh trước thời hạn đã thông báo.

2. Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện khi phát hiện doanh nghiệp không có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.

3. Trong thời gian tạm ngừng kinh doanh, doanh nghiệp phải nộp đủ số thuế còn nợ; tiếp tục thanh toán các khoản nợ, hoàn thành việc thực hiện hợp đồng đã ký với khách hàng và người lao động, trừ trường hợp doanh nghiệp, chủ nợ, khách hàng và người lao động có thỏa thuận khác.

A. Thành phần hồ sơ

1- Thông báo về việc tạm ngừng kinh doanh/quay trở lại hoạt động trước thời hạn của doanh nghiệp/chi nhánh/văn phòng đại diện ;

2- Mục lục hồ sơ (ghi theo thứ tự);

3- Bìa hồ sơ (bằng bìa giấy mỏng hoặc nylon cứng không có chữ sử dụng cho mục đích khác).

4- Tờ khai thông tin người nộp hồ sơ ;

B. Số lượng hồ sơ: 01 bộ

Thủ tục:

Bước 1: Doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ đầy đủ theo quy định.

Bước 2: Doanh nghiệp đến nộp hồ sơ tại Phòng Đăng ký kinh doanh

+ Thời gian từ thứ Hai đến thứ Sáu hàng tuần: Sáng từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ 30 phút; chiều từ 13 giờ đến 17 giờ. Thứ Bảy: Sáng từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ 30 phút.

+ Lấy số thứ tự và chờ gọi theo số thứ tự.

Bước 3: Phòng Đăng ký kinh doanh kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và giải quyết hồ sơ của doanh nghiệp.

Bước 4: Căn cứ theo ngày hẹn trên giấy Biên nhận, doanh nghiệp đến Phòng Đăng ký kinh doanh để nhận kết quả giải quyết hồ sơ hoặc đăng ký nhận kết quả tại địa chỉ thông qua doanh nghiệp trả kết quả qua Bưu điện.

Thực hiện tại:

- Trực tiếp tại Phòng Đăng ký kinh doanh.

- Thông qua Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia theo địa chỉ

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

4. Có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ?

Thưa luật sư, Tôi có ký hợp đồng tuyển lao động nữ giúp việc nước ngoài với người nhân viên đối ngoại của Công ty Nam Việt Hà Đông -Hà Nội ,tên Nguyễn Thị Giang, hợp đồng được hai bên ký tên và đóng dấu vân tay, nhưng không được công chứng.
Nội dung hợp đồng tôi tuyển dụng mỗi lao động đầy đủ từ điều kiện sức khỏe , giấy tờ hợp pháp với theo quy định của Bộ lao động. Tôi giao cho bên nhận tại sân bay Tân Sơn Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh là 2 nghìn USD và sau khi được đóng VISA đi, phía bên Giang phải trả chi phí cho tôi đủ. Khi tôi đưa người lao động tới văn phòng Nam Việt bàn giao thì văn phòng cho người lao động học tập ngoại ngữ tại chỗ là 14 ngày thì hoàn tất công việc và sẽ thanh toán mọi chi phí cho tôi. Sau 14 ngày công ty Nam Việt đưa người lao động ra sân bay Nội Bài và bay đến Arapxeut, mọi việc đã làm hoàn tất . Nhưng cho đến nay phía bên công ty Nam Việt không thanh toán các chi phí cho tôi. Vậy xin luật sư giải đáp cho tôi có hành vi chiếm đoạt không? Thủ tục tố cáo như thế nào?
Trân trọng cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 174 Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Để nhận biết hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản dựa vào các dấu hiệu sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Dấu hiệu pháp lí: Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối.

Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi thỏa mãn một trong các dấu hiệu sau:

-Tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên;

- Gây hậu quả nghiêm trọng;

-Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt;

-Đã bị kết án vì hành vi chiếm đoạt và chưa được xóa án tích.

Theo quy định của pháp luật thì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hai hành vi khác nhau: hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt. Hai hành vi này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hành vi lừa dối là điều kiện để mục đích chiếm đoạt tài sản hoàn thành. Chiếm đoạt tài sản là kết quả của hành vi lừa dối.

Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật để người khác tin tưởng đó là sự thật. Mặc dù người có hành vi lừa dối biếtđó là thông tin không đúng nhưng vẫn cố ý lừa dối người khác để thực hiện hành vi lừa dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác.

Từ những dữ kiện bạn đưa ra kết hợp với những quy định của pháp luật thì bạn và nhân viên của công ty Nam Việt đã kí kết hợp đông môi giới việc làm cho người lao động, hai bên đã kí kết và đóng dấu vân tay chính vì vậy ban đầu không có hành vi lừa dối được thực hiện mà sau đó khi hoàn thành hợp đồng bên công ty Nam Việt không hoàn thành nghĩa vụ là hoàn trả tất cả chi phí cho bạn. Do vậy hành vi này không đủ điều kiện cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Bộ Luật Hình sự.

Trong trường hợp của bạn do hai bên đã kí kết hợp đồng không có sự lừa dối dựa vào sự tín nhiệm (quen biết). Sau khi có được tài sản mới xuất hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn lừa dối, bỏ trốn, không có khả năng hoàn trả thì hành vi này cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Bộ Luật Hình sự.

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.

Theo quy định trên thì hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác để sử dụng vào mục đích bất hơp pháp dẫn đến không có khả năng hoàn trả và giá trị của tài sản bị chiếm đoạt là trên một triệu đồng. Trường hợp của bạn có đủ các điều kiện cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và bạn có thể làm đơn tố cáo hành vi của công ty Nam Việt về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Đối với trường hợp này của bạn để thuận lợi nhất cho bạn thì bạn có thể gửi đơn đến cơ quan tiến hành tố tụng là cơ quan công an nơi xảy ra hành vi phạm tội và trong thời hạn 20 ngày cơ quan đã nhận đơn của bạn có nhiệm vụ tiến hành xác minh, kiểm tra thông tin và sẽ ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Nếu bạn có được những chứng cứ ban đầu hoặc chứng cứ chứng minh thông tin bạn tố cáo về hành vi phạm tội là chính xác thì bạn có thể gửi cho cơ quan công an.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

5. Tố cáo lừa đảo 100 triệu nhưng thông tin không rõ ràng ?

Tôi làm nhân viên văn phòng bên ngân hàng. trong khoảng thời gian làm việc có quen biết 1 anh có hỏi vay tiền nhưng sau đó không vay. quen cũng khoảng được 2 năm. Thỉnh thoảng cũng có cafe và nhậu 1.2 lần. Chỉ biết là người này làm kinh doanh xưởng cafe ở Hóc Môn và thuê nhà trong này để ở.
Vì cùng quê với tôi, thinh thoảng có giới thiệu bạn của anh ta tôi la nhân viên ngân hàng ai cần vay vốn thì liên hệ với tôi nhưng sau đó cũng ko ai vay. Khoảng cách đây 3 tháng có liên lạc qua điện thoại hỏi thăm tình hình công việc hiện tại. Cách đây vài hôm anh có điện thoại hỏi vay tiền tôi vì cần tiền lấy hàng gấp. Ban đầu tôi nói lam gì có số tiền lớn như vậy, nhưng không hiểu sao khi đi làm tôi lai suy nghĩ lại vì gia đình có mượn cho tôi 100 triệu đồng để chạy sổ tiết kiệm cuối năm nhưng tôi vẫn chưa chạy nên mời nhắn tin bảo anh qua chỗ tôi làm việc lấy tiền và anh có hứa ngày mai sẽ trả lại, số tiền tôi đưa anh ta là 80 triệu đồng và tôi có ghi giấy vay tiền rồi đưa anh ta kí tên nhưng tôi lại không xem chứng minh hay địa chỉ gì.( thật sự lúc này tôi không hiểu sao tôi lại tin anh ta đến như vậy) Chờ đến hôm sau tôi điện thoại thì thuê bao. Tôi bắt đầu nóng ruột nhưng cố gắng chờ thêm ngày sau gọi điện thoại mà vẫn thuê bao. Sang ngày thứ 3 thì cũng là ngày tôi đi làm, tôi điện thoại vẫn ko liên lạc được, nhưng một lúc sau anh ta lại dùng số điện thoại khác gọi lại cho tôi nói là tôi giờ chạy xuống huyện Hóc Môn anh ta đưa lại tiền, lúc này tôi có hỏi anh ta sao không điện thoại được thì anh bảo là bận quá nên điện thoại tắt. Lần này anh ta có hỏi tôi còn tiền đó không vì bạn anh ta đang cần gấp mà lại ở gần chỗ tôi làm viêc ( Tôi làm ở Q1- HCM) thì anh ta có bảo tôi đưa bạn anh ta thêm 18 triệu nữa rồi em xuống dươi Hóc Môn anh đưa toàn bộ số tiền lại cho. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn tin và chờ đưa tiền cho người bạn của anh ta. Sau đó tôi xuống Hóc Môn rồi gọi điện thoại cho anh ta cũng không được, nhắn tin địa điểm để anh ta đến chờ một lúc đến lúc này tôi mới nghĩ mình đã bị lừa, nên quay về.
- Sáng hôm sau tôi có lên cơ quan công an quận làm đơn tố cáo. Nhưng vấn đề chính ở đây là tôi chỉ biết tên anh ta, quen biết nhưng ko biết rõ địa chỉ chính xác, chỉ biết a ta ở huyện Hós Môn và chỉ có số điện thoại 2 năm nay thỉnh thoảng liên lạc nhưng giờ thì không liên lạc được nữa, chỉ nhớ đăc điểm nhận dạng chứ cũng chưa bao giờ xem chứng minh, và chỉ biết anh ta đi loại xe máy gì, biển số thành phố nhưng lại ko nhớ được dãy số sau của xe, chỉ nhớ biển số xe là 59, gặp nhau thì cũng chỉ ở quan cafe nay đây mai đó nên bên công an bảo thông tin mơ hồ, phải làm thêm gì chứ như vậy không đủ tình tiết để điều tra, nên tôi phải quay về.
Vậy trong trường hợp của tôi như trên thì kính mong văn phòng luật sư tư vấn giúp tôi có cách nào có thể tố cáo và điều tra tìm ra người này được ko? có cơ quan chức năng nhà nước nào có thể giúp tôi được hay ko? với tình tiết sự việc như trên thì tôi dính vào loại lừa đảo nào?
- Xin trân trọng cảm ơn !

>> Tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 có quy định về hai tội là lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139) và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140), cụ thể như sau:

“Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:...

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;” (Điều 139).

“Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:...

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;”. (khoản 1 Điều 140).

Trong tình huống của bạn, chúng tôi xin gọi người đã lấy tiền của bạn là A.

Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 khi thủ đoạn gian dối xuất hiện ngay từ đầu, người phạm tội cố ý(A) đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho người khác (bạn) tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản (thủ đoạn gian dối xuất hiện trước hành vi chiếm đoạt).

Trường hợp A có khả năng trả tiền cho bạn, trên cơ sở sự tín nhiệm, bạn giao tiền cho A. Sau khi A có được tiền, A mới xuất hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn bỏ trốn, không có khả năng hoàn trả vì đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp…thì hành vi này cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140.

Do bạn không biết rõ thông tin của A, cho nên phụ thuộc vào kết quả điều tra, xác minh, hành vi của A có thể cấu thành một trong hai tội là lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139) hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140).

Để bảo vệ quyền lợi cho mình, bạn có thể gửi cùng với các chứng cứ kèm theo đến cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố giác về tội phạm theo quy định tại Điều 5 của Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (như Cảnh sát điều tra của Công an quận, huyện; Viện kiểm sát,Tòa án nhân dân cấp quận, huyện; Công an xã, phường, thị trấn, đồn, trạm Công an; Cơ quan báo chí;...)

Các cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành giải quyết tố giác tội phạm theo quy định tại Điều 6 của Thông tư liên tịch số 06, cụ thể như sau:

- Cơ quan điều tra sau khi tiếp nhận tố giác về tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình phải tiến hành kiểm tra, xác minh. Những tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì ngay sau khi tiếp nhận phải chuyển tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đó kèm theo các tài liệu có liên quan đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.

- Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra sau khi tiếp nhận tố giác về tội phạm thì thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, Cơ quan điều tra có thẩm quyền và tiến hành kiểm tra, xác minh. Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì phải chuyển ngay các tố giác về tội phạm kèm theo các tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.

- Viện kiểm sát sau khi tiếp nhận tố giác về tội phạm phải chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết kèm theo các tài liệu có liên quan.

- Các cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm m, n, p, q khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 06 (Công an xã, Tòa án, cơ quan báo chí, cơ quan, tổ chức khác), sau khi nhận được tố giác về tội phạm có trách nhiệm báo ngay tin đã nhận được cho Cơ quan điều tra bằng văn bản. Trường hợp khẩn cấp có thể báo tin trực tiếp hoặc qua điện thoại và các hình thức liên lạc khác nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản.

- Đối với tố giác về tội phạm được nêu trên các phương tiện thông tin đại chúng thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan, đơn vị nào thì cơ quan, đơn vị đó ghi nhận và giải quyết theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

- Các cơ quan, tổ chức sau khi tiếp nhận tố giác về tội phạm không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức mình phải chuyển ngay đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết; đồng thời, nếu xét thấy không gây khó khăn cho cá nhân, cơ quan, tổ chức báo tin hoặc không làm ảnh hưởng đến việc kiểm tra, xác minh, ngăn chặn ngay tội phạm thì hướng dẫn họ đến đúng cơ quan có thẩm quyền để tố giác, báo tin về tội phạm. Trường hợp cấp bách, cần ngăn chặn ngay tội phạm, thu thập chứng cứ, bảo vệ hiện trường thì phải có biện pháp giải quyết kịp thời theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo