1. Làm luật tư pháp tại WTO

Trong khi không có một mẫu điều tra lấy ngẫu nhiên hay có tính đại diện của các trường hợp làm luật tư pháp tại WTO, điều đáng chú ý là hầu như tất cả các trường hợp làm luật này đã tạo thuận lợi cho sự giải thích mở cửa thị trường của luật lệ WTO - chỉ một quyết định (Hoa Kỳ - Tôm-Rùa) đã tạo ra luật mà có thể ủng hộ cho việc đóng cửa thị trường. Lập luận khác cho rằng các quyết định của Cơ quan Phúc thẩm về các vụ đền bù thương mại thường là thiên về phương hướng mở cửa thị trường (Tarullo 2003). Tự do hóa thương mại thường được nhận thức như là lý do tồn tại của hệ thống GATT/WTO, mặc dù quan điểm có nhiều sắc thái hơn cho rằng các thỏa thuận WTO đại diện cho sự cân bằng tế nhị về chính trị giữa quyền lợi và nghĩa vụ, một số tự do và một số cố tình phản tự do, đã lấy khái niệm “chủ nghĩa tự do đã được bám rễ” (Ruggie 1983).

2. Điều gì giải thích cho việc làm luật tư pháp tại WTO?

Điều gì giải thích cho việc làm luật tư pháp tại WTO - và phương hướng tự do hóa (nghĩa là mở cửa thị trường) rõ ràng của nó? Trong thập kỷ vừa qua, cuộc tranh luận về giải quyết tranh chấp của WTO phần lớn đã được nằm trong phạm vi vấn đề hệ thống này cần nhạy cảm về chính trị hơn hay luật hóa hơn (Hudec 1999; Jackson 1990; Petersmann 1997; Weiler 2000b). Các nhà khoa học chính trị đã tham gia vào một cuộc tranh luận tiến hành song song về đạo đức và sự rủi ro của luật hóa tổ chức quốc tế (Slaughter, Slaughter và Mattli 1993; Goldstein và Martin 2000). Để ra ngoài khía cạnh chuẩn tắc của các câu hỏi, thì có lý do để tin rằng một cơ quan tư pháp tách riêng, làm việc toàn phần thời gian, có sức mạnh hỗ trợ phía sau để đưa ra những sự trừng phạt hợp pháp (chẳng hạn như Cơ quan Phúc thẩm WTO) sẽ có nhiều khả năng xảy ra hơn là các hội đồng xét xử đặc biệt (đặc trưng cho cơ cấu tư pháp của GATT) để tham gia vào công việc chính trị chiến lược (Keohane, Moravcsik, và Slaughter 2000). Các cơ quan thường trực nào có nguy cơ bị che khuất trong tương lai nên suy nghĩ về tiền lệ pháp lý và sự phát triển lớn lên của luật pháp, hơn là chỉ lo đáp ứng vấn đề chính trị có trong tay (Slaughter và Mattli 1993; Weiler 1991). Hơn nữa, sức mạnh để cưỡng chế các phán quyết thông qua sự ủy quyền trừng phạt có thể khích lệ cơ quan tư pháp đưa ra các phán quyết mà không thể có được nếu không có sức mạnh đó.

Những yếu tố này giải thích khả năng làm luật tư pháp và hành động chiến lược bởi Cơ quan Phúc thẩm, nhưng chúng không nói lên những hạn chế đối với việc làm luật tư pháp. Không gian chiến lược của Cơ quan Phúc thẩm để làm luật có thể bị hạn chế bởi thuyết giáo pháp lý, các quy tắc hợp hiến, hay vấn đề chính trị. Không gian thiếu mạch lạc này có thể được xem như sự gắn kết với không gian hợp hiến, mà cả hai không gian này gắn kết với môi trường chính trị của WTO.

3. Cơ quan phúc thẩm góp phần hoàn thiện các hiện định của WTO

Theo Điều 3.2 của DSU, Cơ quan Phúc thẩm phải “làm rõ các điều khoản hiện hành” của các hiệp định WTO “phù hợp với các quy tắc thông lệ trong việc giải thích luật công pháp quốc tế.” Làm như vậy, Cơ quan Phúc thẩm, theo Điều 19.2, “không thể bổ sung hay từ bỏ các quyền lợi và nghĩa vụ được nêu trong các hiệp định chi phối.” Trong trường hợp đặc biệt của việc giải thích hiệp định chống bán phá giá, theo Điều 17.6 của hiệp định đó, khi một hội đồng xét xử “phát hiện một điều khoản của một hiệp định có nhiều cách giải thích, thì hội đồng xét xử đó sẽ tìm biện pháp của chính quyền [quốc gia] phù hợp với hiệp định nếu hội đồng dựa vào một trong cách giải thích được phép đó.”

Cũng như có nhiều cách tiếp cận tư pháp khác nhau đối với việc giải thích đạo luật tại Hoa Kỳ, các quy tắc thông lệ giải thích luật công pháp quốc tế cũng đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau để giải thích các hiệp định WTO. Những cách tiếp cận đó xếp hàng từ các loại bị hạn chế và phục tùng cao đối với nguyên tắc được sự đồng ý của các thành viên, đến các loại muốn mở rộng làm luật tư pháp vì mục đích hoàn thiện và năng động trong việc giải thích các văn bản pháp lý của WTO.

4. Quan điểm phục tùng

Tại thái cực hạn chế, học thuyết của luật công pháp quốc tế cho phép các cơ quan tư pháp phục tùng mức cao đối với các quốc gia khi giải thích mức độ nghĩa vụ pháp lý của họ. Cách tiếp cận phục tùng như vậy chủ yếu dựa vào nhận thức theo chủ nghĩa thực chứng cho rằng các quốc gia chỉ bị ràng buộc thông qua sự đồng ý, theo đúng từng chữ, thể hiện chí ít qua hai học thuyết. In dubio mỉtius là một quy tắc giải thích hiệp định lâu đời coi trọng sự phục tùng đối với chủ quyền quốc gia khi một luật lệ mơ hồ. Nguyên tắc này quy định nếu ý nghĩa của một từ ngữ mơ hồ, thì ý nghĩa được ưu tiên của từ đó là ý nghĩa bớt khó khăn hơn cho bên phải có nghĩa vụ, hay ít can thiệp hơn vào chủ quyền lãnh thổ và cá nhân của bên đó, hoặc ít liên quan hơn đến các hạn chế đối với các bên (Oppenheim 1992; Cameron và Gray 2001).

>> Xem thêm:  Sự vận hành của các vòng đàm phán thương mại như thế nào ?

Cũng tại thái cực bị hạn chế, các học thuyết phổ biến khuyên nên tránh đi vào xử lý kẽ hở trong luật. Một số người có thể viện dẫn học thuyết non liquet (có nghĩa là “không rõ ràng”) nếu luật không cho phép đưa ra quyết định theo cách này hay cách khác. Theo quan điểm đó, có những kẽ hở trong luật pháp quốc tế, và không phải trách nhiệm của các tòa án quốc tế lấp các kẽ hở đó vì họ không phải là cơ quan lập pháp; như vậy, trong các trường hợp đó các tòa án phải tuyên bố non liquet. Theo quan điểm khác, được thể hiện rõ nhất trong vụ Lotus - một quyết định vào năm 1927 có liên quan đến việc áp dụng luật Thổ Nhĩ Kỳ đối với các thủy thủ nước ngoài ở vùng biển của Thổ Nhĩ Kỳ - ở đây không có kẽ hở trong luật pháp quốc tế vì bất cứ điều gì mà luật pháp quốc tế không cấm thì được phép; như vậy, cũng sẽ không bao giờ có trường hợp non liquet. Tuy nhiên, quan điểm này cho rằng “các quy định của luật ràng buộc các quốc gia phải xuất phát từ ý muốn của họ và do đó những hạn chế đối với sự độc lập của các quốc gia là không đúng” (Tòa án Quốc tế - 1927). Dù có hay là không có một non liquet, luật pháp quốc tế để ngỏ cho các nước có sự lựa chọn rộng rãi tùy ý, chỉ hạn chế trong các trường hợp có quy định nghiêm cấm, ngoài trường hợp đó ra tất cả các quốc gia được tự do hành động mà họ cho là tốt nhất và thích hợp nhất (Weil 1997; Ford 1994).

Nhiều lập luận về chính sách có thể được đưa ra để ủng hộ việc sử dụng các học thuyết phục tùng này. Những người đàm phán các hiệp định WTO thường có xu hướng muốn một số điều khoản mơ hồ, hay loại bỏ các quy tắc điều chỉnh một số hành vi nhất định, sao cho các chính phủ của nước họ có thể áp dụng hay duy trì các luật trong nước phản ánh được bất kỳ cách giải thích luật nào có thể có. Trong các trường hợp đó, họ đang tán thành nhiều sự giải thích - chứ không phải một “sự giải thích tốt nhất”. Mọi cố gắng nhằm áp đặt một giải thích cụ thể cho các kẽ hở hay những mơ hồ như vậy có nguy cơ đi ngược với ý muốn của các nước, một chuẩn mực của luật công pháp quốc tế đương thời. Hơn nữa, mọi nỗ lực làm như vậy có nguy cơ giải thích ngôn ngữ của WTO mâu thuẫn với ý muốn, luật pháp trong nước, và hành vi của các thành viên WTO hùng mạnh hay làm mất sự cân bằng tế nhị giữa các quyền lực và nghĩa vụ được phản ánh trong các hiệp định WTO. Robert Hudec cho rằng Cơ quan Phúc thẩm có thể đã khôn ngoan khi áp dụng nguyên tắc in dubio mitius trong quyết định EC - Các biện pháp đối với thịt và các sản phẩm thịt (Hoóc môrí), vì làm như vậy nó đã nâng cao tính hợp pháp của mình bằng tín hiệu sự phục tùng của mình đối với chủ quyền quốc gia (Hudec 1999). Cuối cùng, xu hướng phục tùng là phù hợp với Điều 3.2 của DSU: “Những kiến nghị và phán quyết của DSB không được bổ sung vào hay loại bỏ các quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên.”

Ở thái cực khác, học thuyết luật pháp quốc tế có thể được hiểu là cho phép các tòa án làm luật thông qua lấp kín các kẽ hở và làm rõ những chỗ mơ hồ trong luật nhằm xác lập sự hoàn thiện, tính chính xác, mạch lạc và năng động. Lập trường đặc thù trong số các trưởng phái luật thương mại quốc tế thiên về quan điểm này hơn là quan điểm phục tùng. Một số nhà bình luận cho rằng các quy tắc non liquetin dubio mitius là không thể được bởi vì hệ thống luật pháp quốc tế có tính logic hay hoàn toàn mạch lạc - hay là nên như vậy (Weil 1997). Các nhà bình luận khác có lập trường mềm mỏng hơn, cho rằng hệ thống pháp luật quốc tế đưa ra các cơ chế sơ cấp và thứ cấp của sự giải thích để cho phép các quan tòa lấp kín kẽ hở và làm rõ các mơ hồ trong hầu hết các trường hợp (Pauwelyn 2001; Hughes 1998). Croley và Jackson lập luận rằng các quy tắc thông lệ giải thích luật công pháp quốc tế, mà phải chỉ dẫn các hội đồng xét xử giải quyết tranh chấp và Cơ quan Phúc thẩm, là nhằm giải quyết những sự mơ hồ trong các văn bản hiệp định quốc tế - ngay cả trong các trường hợp liên quan đến hiệp định chống bán phá giá, quy định (Điều 17.6) sự phục tùng đối với một loạt cách giải thích của các chính phủ (Croley và Jackson 1996).

5. Quan điểm về sự hoàn thiện và năng động

Nhiều lập luận về chính sách ủng hộ cho lập trường về sự hoàn thiện và năng động (Croley và Jackson 1996; Pauwelyn 2001; Howse 2002a). Các hiệp định WTO là không hoàn hảo, có đầy rẫy những kẽ hở không chỉ rõ phải xử lý thế nào đối với các tình huống thực tế hay những mơ hồ mà có thể hiểu một cách hợp lý theo nhiều cách khác nhau. Để xây dựng một hệ thống giải quyết tranh chấp hợp pháp, các nhà đàm phán Vông Uruguay đã ngầm chấp nhận thông lệ của luật pháp quốc tế đòi hỏi các cơ quan tư pháp quốc tế đưa ra sự giải thích tốt nhất ngôn ngữ của hiệp định. Khi đối mặt với sự khiếu nại, Cơ quan Phúc thẩm được yêu cầu ra quyết định về vụ kiện, đứng về bên này hay bên kia của một tranh chấp chính trị, mặc dù điều đó là dựa trên học thuyết phục tùng. Một số người lập luận rằng hệ thống luật pháp của WTO là quá trình rất chậm chạp và cuối cùng ít khi dẫn đến các luật lệ mới mà ngành tư pháp phải tham gia vào làm luật nên các kẽ hở và mơ hồ cần phải được xử lý và nếu hệ thống muốn phản ứng kịp thời với sự thay đổi của môi trường bên ngoài. Hơn nữa, họ còn tranh luận rằng một điều đã được xác lập vững chắc trong luật công pháp quốc tế rằng một số điều khoản của các hiệp định cần phải được giải thích từng bước.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)

>> Xem thêm:  Kinh nghiệm áp dụng biện pháp tự vệ thương mại của Thái Lan của Hoa Kỳ

Câu hỏi thường gặp về chức năng lập pháp của WTO ?

Câu hỏi: Hiểu thế nào về Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia?

Trả lời:

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment – NT), quy định tại Ðiều III Hiệp định GATT, Ðiều 17 GATS và đều 3 TRIPS. Nguyên tắc NT được hiểu là hàng hoá nhập khẩu, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài phải được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hoá cùng loại trong nước.

Câu hỏi: Mục tiêu hoạt động và chức năng của WTO?

Trả lời:

Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hoá và dịch vụ trên thế giới phục vụ cho sự phát triển, ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường; Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên; Nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho người dân các nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng.

 

Câu hỏi: Hiểu thế nào là Nguyên tắc ''mở cửa thị trường'' ?

Trả lời:

Nguyên tắc ''mở cửa thị trường'' hay còn gọi một cách hoa mỹ là tiếp cận thị trường (market access) thực chất là mở cửa thị trường cho hàng hoá, dịch vụ và đầu tư nước ngoài. Trong một hệ thống thương mại đa phương, khi tất cả các bên tham gia đều chấp nhận mở cửa thị trường của mình thì điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra một hệ thống thương mại toàn cầu mở cửa.