Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

1. Cơ sở pháp lý:

- Công ước Liên hiệp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển năm 1978

2. Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở là gì?

Giới hạn trách nhiệm (tiếng Anh: Limit of Liability) là trách nhiệm của người chuyên chở bồi thường cho một đơn vị hàng hoá bị tổn thất.

Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở là mức bồi thường của người chuyên chở đối với một đơn vị hàng hoá khi hàng hoá bị tổn thất mà giá trị hàng hoá đó không được kê khai vào vận đơn hay chứng từ vận đơn. Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở đường biển khác nhau theo từng qui tắc.

Theo quy tắc Hague

Người chuyên chở và tàu trong mọi trường hợp không chịu trách nhiệm về hư hỏng, mất mát của hàng hoá vượt quá 100 bảng Anh (GBP) cho 1 kiện hoặc đơn vị hoặc một số tiền tương đương bằng ngoại tệ khác, trừ khi tính chất và giá trị của hàng hoá đã được người gửi hàng kê khai vào vận đơn.

Điều này có nghĩa là nếu hàng hoá bị tổn thất mà giá trị hàng hoá không được kê khải vào vận đơn thì người chuyên chở chỉ bồi thường (nếu thuộc trách nhiệm) 100 GBP/ kiện hoặc đơn vị.

Giới hạn trách nhiệm này được qui định từ năm 1924, đến nay đồng bảng Anh đã mất giá nhiều lần, đã trở nên quá thấp.

Bản thân nước Anh đã nâng giới hạn trách nhiệm lên 200 GBP, nước Mỹ trong luật vận tải biển năm 1936 (Carriage of Goods by Sea Act, 1936) đã nâng lên 500 USD/kiện hoặc đơn vị tính cước.

Theo qui tắc Hague - Visby

Nghị định thư Visby 1968 đã nâng giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở lên 10.000 Fr vàng/ kiện hay đơn vị hoặc 30 Fr vàng/kg hàng hoá cả bì bị mất, tuỳ theo cách tính nào cao hơn (1 Fr = 65,5 mg vàng có độ nguyên chất 900/1.000).

Năm 1979 Nghị định thư SDR đã được thông qua để sửa đổi qui tắc Hague-Visby.

Trong nghị định thư này, đồng tiền để tính giới hạn trách nhiệm đã được đổi thành đồng SDR (Special Drwing Right) của Quĩ Tiền tệ Quốc tế (IMF) với mức tương ứng là 666,67 SDR/kiện hay đơn vị hoặc 2 SDR /kg hàng hoá cả bì bị mất, tuỳ theo cách tính nào cao hơn. Giới hạn trách nhiệm áp dụng cho các nước là thành viên của Quĩ Tiền tệ Quốc tế.

3. Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở theo Công ước Hamburg

Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở được quy định tại Điều 6 Công ước Hamburg. Cụ thể như sau:

"1. (a) Trách nhiệm của người chuyên chở về thiệt hại do hàng hóa bị mất mát hoặc hư hại theo những quy định của Điều 5 được giới hạn với số tiền tương đương 835 đơn vị tính toán cho mỗi kiện hoặc ơn vị chuyên chở khác hoặc tương đương 2,5 đơn vị tính toán cho mỗi kilogram trọng lượng cả bì của hàng hóa bị mất mát hoặc bị hư hại, tùy theo cách tính nào cao hơn.

(b) Trách nhiệm của người chuyên chở về việc chậm giao hàng theo những quy định của Điều 5 được giới hạn tới số tiền tương đương 2,5 lần tiền cước phải chở cho số hàng giao chậm nhưng không vượt quá tổng số tiền cước phải trả theo quy định của hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển.

(c) Trong mọi trường hợp tổng cộng số tiền bồi thường của người chuyên chở theo tiểu mục (a) và (b) của mục này cũng không được vượt quá giới hạn trách nhiệm được xác định theo tiểu mục (a) của mục này đối với trường hợp tổn thất toàn bộ hàng hóa mà người chuyên chở có trách nhiệm.

2. Để tính toán số tiền nào lớn hơn theo mục 1 (a) của Điều này, những Quy tắc sau đây được áp dụng:

a) Nếu container, pallet hay vật dụng vận tải tương tự được dùng để đóng hàng thì những kiện hoặc những đơn vị chuyên chở khác liệt kê trong vận đơn, nếu vận đơn được ký phát, hoặc trong bất cứ chứng từ nào làm bằng chứng trong hợp đồng chuyên chở bằng đường biển ghi là đã được đóng trong vật dụng vận tài đó, đều được coi là những kiện hoặc những đơn vị chở hàng. Ngoài cách nói trên, những hàng hóa chứa trong vật dụng vận tài đó dược coi chỉ là một đơn vị chở hàng.

b) Trong những trường hợp mà bản thân vật dụng vận tải bị mất hoặc bị hư hại thì vật dụng vận tải đó được coi là một đơn vị chở hàng riêng biệt nếu nó không thuộc quyền sở hữu của người chuyên chở, hoặc không phải do người chuyên chở cung cấp.

3. Đơn vị tính toán là đơn vị tính toán nói ở Điều 26.

4. Người chuyên chở và người gửi hàng có thể thỏa thuận định những giới hạn trách nhiệm vượt quá các giới hạn quy định của mục 1".

3.1. Về nguyên tắc

Mức giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở được quy định ở các điều ước khác đã trình bày ở phần thứ nhất có thể tóm tắt như sau:

Quy tắc Hague giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở đến 100 bảng vàng Anh quốc đối với mỗi kiện hàng hoặc đơn vị chuyên chở mà không cần để ý đến trọng lượng của nó. Khi đồng bảng Anh tách ra khỏi chế độ bản vị vàng thì, tòa án và các cơ quan lập pháp của các quốc gia đã dùng nhiều phương pháp khác nhau để quy đổi giới hạn 100 bảng này ra tiền quốc gia.

Để khắc phục tình trạng này Quy tắc Hague - Visby thay thế giới hạn trên bằng giới hạn theo đồng frăng vàng là đồng tiền thường được dùng trong các Công ước quốc tế thời bấy giờ.

Nghị định thư SDR 1979 sau đó đã thay thế đồng frăng vàng bằng SDR như là một đơn vị tiền tệ để quy định giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở. Giới hạn được xác định bởi nghị định thư 1979 là 666,67 SDR đối với mỗi kiện hàng hoặc đơn vị chuyên chở hoặc 2 SDR đối với một kilogam tùy theo cách tính nào cao hơn.

Điều 6.1 (a) thiết lập giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở đối với tổn thất hoặc tổn hại của hàng hóa. Theo hệ thống giới hạn trách nhiệm của Quy tắc Hamburg, khiếu nại người chuyên chở bị hạn chế bởi giá trị cao hơn trong hai sự lựa chọn sau:

- Cách lựa chọn thứ nhất căn cứ vào mỗi kiện hàng hoặc một đơn vị chuyên chở nào khác, theo đó mức trách nhiệm lớn nhất là số tiền tương đương 835 "đơn vị tính toán" đối với mỗi kiện hàng hoặc một đơn vị chuyên chở.

- Cách lựa chọn thứ hai căn cứ vào trọng lượng cả bì của hàng hóa bị tổn thất hay tổn hại, theo đó mức trách nhiệm lớn nhất là số tiền tương đương 2,5 "đơn 'vị tính toán" đối với 1 kg trọng lượng cả bì hàng hóa.

Điều 6.1 (b) thiết lập một giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở đối với chậm giao hàng tương đương với 2,5 lần cước phải trả cho hàng hóa bị giao chậm nhưng không vượt quá tống số tiền cước phải trả theo quy định của hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển.

Điều 6.1 (c) quy định tổng mức trách nhiệm của người chuyên chở đối với hàng hóa bị tổn thất hay tổn hại và chậm giao hàng không vượt quá giới hạn lớn nhất đối với trường hợp tổn thất toàn bộ hàng hóa xác định theo cách tính tại mục a.

Điều 6.1 (a) của Quy tắc Hamburg duy trì cả hai cách tính giới hạn theo kiện hoặc đơn vị hàng hóa và theo kilogam đã được ấn định tại Quy tắc Hague - Visby. Hội nghị Hamburg quyết định giữ giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở đường biển trên một kilogam ở mức thấp khi so với giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở bằng các phương tiện vận chuyển khác bởi vì liên quan đến hầu hết các loại hàng hóa có giá trị thấp vận chuyển bằng đường biển. Giới hạn theo kiện/đơn vị hàng hóa vẫn được giữ lại để bảo vệ tốt hơn cho những loại hàng kiện nhẹ và có giá trị cao.

Mặc dù Hội nghị Hamburg thống nhất rằng do lạm phát nên giới hạn trách nhiệm trong Quy tắc Hamburg đối với tổn thất hay tổn hại của hàng hóa sẽ cao hơn so với quy định trong Quy tắc Hague - Visby nhưng mức độ tăng còn là một chủ đề tranh cãi. Cuối cùng người ta thống nhất với mức giới hạn cao hơn 25% so với mức được thiết lập trong Nghị định thư SDR 1979, là mức mà đã bị lạm phát bắt kịp vào thời điểm đó.

3.2. Quy tắc xác định kiện hàng

Điều 6.2 (a) đưa ra Quy tắc để xác định số lượng kiện hàng hay đơn vị chuyên chở với mục đích áp dụng giới hạn theo kiện hàng quy định tại Điều VI. 1 (a). Nếu container, pallet hay một công cụ vận tải tương tự được sử dụng để đóng hàng, số kiện hàng hay đơn vị chuyên chở là số được liệt kê trên vận tải đơn hay bất kỳ chứng từ nào làm bằng chứng cho hợp đồng chuyên chở là nó được đóng trong công cụ vận tải đó.

Theo Điều 6.2 (b), container bản thân nó cũng được coi như là một đơn vị chuyên chở riêng biệt tăng thêm nếu nó không phải thuộc sở hữu hoặc do người chuyên chở cung Gấp. Như vậy, nếu vận tải đơn kê rõ 10 kiện hàng trong một container do người gửi hàng cung cấp, giả thiết cả 10 kiện hàng cũng như container đều bị hỏng thì coi như có 11 kiện hàng bị hỏng.

Quy tắc Hague - Visby cũng có quy định tương tự tại Điều VI.5 (c). Điều này của Quy tắc Hague - Visby đã gây ra nhiều cách giải thích khác nhau, bởi vì nó không nói rõ ai là người phải liệt kê rõ số kiện trên vận tải đơn. Thông thường thì đó là người gửi hàng, họ cung cấp chứng từ cho người chuyên chở và họ là người liệt kê số kiện trên đó để người chuyên chở phát hành vận tải đơn. Tuy nhiên, nếu hàng hóa được đóng gói và container đã niêm phong kẹp chì bởi người gửi hàng thì người chuyên chở không có biện pháp nào để kiểm tra số kiện ghi trên chứng từ đó có chính xác hay không.

Dù vậy, bất đồng trong giải thích Nghị định thư Visby được giải quyết bằng cách cả hai bên đều thông nhất rằng nội dung của hợp đồng có bao gồm quy định về việc có hay không và bằng cách nào để kiểm đếm các kiện trong Container, Quy tắc Hamburg sẽ giúp một cách đáng kể để giải quyết vấn đề này. Người chuyên chở có thể điền vào vận tải đơn những điều bảo lưu của mình bằng những mệnh để. Ví dụ, như "người gửi hàng đóng gói, kiểm đếm và niêm phong kẹp chì, người chuyên chở đã không có cách nào để kiểm tra số kiện".

3.3. Đơn vị tiền tệ

Điều 6.3 chỉ đơn thuần chỉ dẫn đến Điều 26 nơi đơn vị tiền tệ được xác định thông thường đó là SDR. Điều 26 của Quy tắc quy định rằng tại hầu hết các quốc gia "đơn vị tính toán" được đề cập đến tại Điều VI là đồng SDR được xác định bởi quỹ tiền tệ quốc tế IMF.

3.4. Thỏa thuận

Quy tắc Hamburg cho phép người chuyên chở và người gửi hàng có thể thỏa thuận một giới hạn trách nhiệm cao hơn giới hạn đã được quy định trong Quy tắc. Điều 6.4 phản ánh nguyên tắc chung được nói rõ hơn tại Điều 23.2 là người chuyên chở có thể tăng mức trách nhiệm và nghĩa vụ của mình so với những quy định của Công ước. Điều khoản này đã được ghi vào bởi vì thỏa thuận làm tăng giới hạn trách nhiệm đã có trong thực tế, mặc dù nó rất hiếm khi dùng bởi vì đã có bảo hiểm hàng hóa.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập