Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quy định số 69-QĐ/TW (2022) của Bộ Chính trị  được sửa đổi, bổ sung mới nhất từ Quy định 264-QĐ/TW (2025), đã tạo ra khuôn khổ pháp lý - chính trị nghiêm khắc nhất để xử lý các vi phạm.

Hình thức kỷ luật Khai trừ là biện pháp mạnh mẽ nhất, thể hiện quyết tâm của Đảng loại bỏ những cá nhân suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng. Bài phân tích này tập trung làm rõ các hành vi vi phạm cụ thể liên quan đến PCTN, LP, TC - bao gồm cả tham nhũng vật chất, chạy chức, chạy quyền và bao che sai phạm đã gây ra hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, buộc đảng viên phải chịu hình thức kỷ luật cao nhất là Khai trừ khỏi Đảng, dựa trên các điều khoản cốt lõi của Quy định 69-QĐ/TW được sửa đổi, bổ sung từ Quy định 264-QĐ/TW năm 2025. 

1. Nguyên tắc áp dụng hình thức khai trừ Đảng

Hình thức kỷ luật Khai trừ là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống kỷ luật của Đảng, mang tính chất tước bỏ vĩnh viễn tư cách đảng viên. Hình thức này được áp dụng khi đảng viên có hành vi vi phạm quy định về Phòng, chống Tham nhũng, Lãng phí, Tiêu cực (PCTN, LP, TC) gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, làm suy giảm nghiêm trọng uy tín của Đảng và niềm tin của nhân dân.

Việc đánh giá hậu quả để dẫn đến Khai trừ không chỉ giới hạn ở thiệt hại vật chất (như tham ô, lãng phí tài sản) mà còn bao gồm thiệt hại về chính trị, uy tín, đạo đức và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, lối sống. Khai trừ được coi là biện pháp cuối cùng để làm trong sạch đội ngũ, loại bỏ những cá nhân đã vi phạm đến mức không còn xứng đáng đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Nguyên tắc xử lý quan trọng: Không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật đối với các vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức Khai trừ.  

Nguyên tắc "không áp dụng thời hiệu" khẳng định rằng các hành vi vi phạm chính trị, đạo đức, hoặc tham nhũng nghiêm trọng đến mức phải Khai trừ là những sai phạm có tính chất hủy hoại vĩnh viễn, không thể được xóa bỏ bởi thời gian. Điều này nhằm ràng buộc trách nhiệm chính trị của đảng viên trong suốt cuộc đời, kể cả sau khi đã nghỉ hưu. Việc không áp dụng thời hiệu cũng áp dụng đối với các vi phạm về chính trị nội bộ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, và việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp.

2. Các hành vi dẫn đến khai trừ Đảng 

Căn cứ theo Quy định số 69-QĐ/TW (2022) và các sửa đổi, bổ sung (đặc biệt là Quy định 264-QĐ/TW năm 2025 ), các hành vi vi phạm PCTN, LP, TC dẫn đến hình thức Khai trừ Đảng tập trung vào các nhóm hành vi sau:  

2.1. Hành vi tham nhũng và bao che có tổ chức 

Hành vi được Khai trừ là những vi phạm quy định về PCTN, LP, TC gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Đặc biệt, Quy định mới nhấn mạnh xử lý nghiêm đối với hành vi bao che:

  • Không xử lý, bao che, dung túng cho tổ chức, cá nhân tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và vi phạm quy định về kê khai, công khai, kiểm soát tài sản, thu nhập .
  • Không lãnh đạo, chỉ đạo hoặc có hành vi cản trở hoạt động thu hồi tiền, tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực . Hành vi này bị coi là phá hoại nghiêm trọng nền tảng kinh tế quốc gia.
  • Chỉ đạo chỉ xử lý nội bộ hoặc xử lý về hành chính đối với cá nhân tham nhũng, lãng phí, tiêu cực có dấu hiệu tội phạm. Hành vi này bị xem là vi phạm nguyên tắc Đảng lãnh đạo và sự liêm chính của hệ thống tư pháp, là căn cứ Khai trừ độc lập.

2.2. Hành vi Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác cán bộ  

Vi phạm nghiêm trọng các quy định về công tác cán bộ, đặc biệt là chạy chức, chạy quyền, có thể bị Khai trừ:

  • Đưa, nhận hối lộ: Đưa, nhận hối lộ để được bố trí, bổ nhiệm, hoặc cố ý bổ nhiệm, bố trí nhiều cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện gây hậu quả rất nghiêm trọng.
  • Các hành vi lợi dụng khác: Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn (Điều 3) hoặc chạy chức, chạy quyền (Điều 4) gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. (Ví dụ: Dùng uy tín, ảnh hưởng tác động để người khác ra quyết định, chỉ đạo, tham mưu theo ý mình; để người thân lợi dụng chức vụ của mình tác động, thao túng công tác cán bộ).  

2.3. Khai trừ bắt buộc khi bị Tòa án tuyên án tù giam 

Nguyên tắc xử lý tại Điều 37 (Quy định 69-QĐ/TW) quy định việc Khai trừ là bắt buộctự động đối với đảng viên bị Tòa án tuyên phạt hình phạt tù giam. Nguyên tắc này dựa trên sự xung đột nghiêm trọng giữa việc bị kết án hình sự và tư cách đảng viên:

Khi Tòa án nhân dân ban hành bản án có hiệu lực pháp luật, tuyên phạt tù giam, điều này khẳng định đảng viên đã có hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng, tước bỏ tư cách công dân và đồng thời tước bỏ tư cách đảng viên.

Điều này áp dụng cho hầu hết các tội danh nghiêm trọng về Tham nhũng và Chức vụ trong Bộ luật Hình sự (BLHS) như Tội Tham ô tài sản, Tội Nhận hối lộ, Tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, do tính chất nghiêm trọng của các tội danh này thường dẫn đến hình phạt tù giam.  

Việc đảng viên được Hoãn chấp hành hình phạt Tù (HCHHPT) theo quy định của pháp luật hình sự (như vì bệnh nặng, nuôi con dưới 36 tháng tuổi) chỉ là một chính sách nhân đạo về thời điểm bắt đầu thi hành án. Chính sách này hoàn toàn không làm thay đổi bản chất vi phạm đã được Tòa án xác định. Do đó, dù được hoãn hay không, hình thức Khai trừ vẫn phải được áp dụng ngay sau khi bản án tù giam có hiệu lực pháp luật.

3. Ví dụ về những hành vi vi phạm 

Để làm rõ tính chất nguy hiểm của các hành vi vi phạm PCTN, LP, TC dẫn đến Khai trừ, sau đây là các ví dụ minh họa về tiêu chí "gây hậu quả rất nghiêm trọng" và "mục đích vụ lợi":

- Ví dụ về Hành vi tham nhũng, bao che và cản trở thể hiện trong bảng sau:

Hành vi vi phạm Ví dụ tình huống cụ thể Căn cứ khai trừ
Bao che, không xử lý  Ông A, Bí thư Chi bộ, biết rõ cấp dưới là Kế toán trưởng có hành vi tham ô quỹ công đoàn (có dấu hiệu tội phạm hình sự) nhưng, vì sợ ảnh hưởng đến thành tích thi đua của đơn vị, đã chỉ đạo chỉ xử lý nội bộ bằng hình thức Cảnh cáo và yêu cầu bồi thường tượng trưng, không báo cáo cơ quan điều tra. Không xử lý, bao che và Chuyển hóa Tội phạm (Khoản 2.đ Điều 17).
Cản trở thu hồi tài sản  Sau khi cựu lãnh đạo B bị tuyên án và tài sản tham nhũng bị Tòa án quyết định thu hồi (một lô đất vàng), lãnh đạo đơn vị C (đảng viên có thẩm quyền) cố tình trì hoãn, không ký quyết định bàn giao hồ sơ pháp lý cho cơ quan thi hành án, nhằm kéo dài thời gian để người thân của B tẩu tán tài sản. Cản trở hoạt động thu hồi tiền, tài sản tham nhũng (Khoản 2.d Điều 17).
Chuyển hóa tội phạm  Hội đồng kỷ luật do Chủ tịch Hội đồng D (đảng viên) đứng đầu, đã họp và cố ý quyết định kỷ luật hành chính (Thôi việc) đối với cán bộ E mặc dù cơ quan thanh tra đã kết luận hành vi của E (nhận chiết khấu sai quy định gây thiệt hại lớn) có dấu hiệu tội phạm và đề nghị chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra. Chỉ đạo chỉ xử lý nội bộ đối với hành vi có dấu hiệu tội phạm. Vi phạm này là căn cứ Khai trừ độc lập về mặt chính trị.

- Ví dụ về Hành vi chạy chức, chạy quyền và hối lộ trong công tác cán bộ thể hiện trong bảng sau:

Hành vi vi phạm Ví dụ tình huống cụ thể Căn cứ khai trừ
Đưa/Nhận hối lộ để bổ nhiệm Ông Q, một cán bộ đang tìm kiếm vị trí cao hơn, đã đưa 500 triệu đồng (hối lộ) cho Trưởng ban Tổ chức Huyện ủy để được ưu tiên bổ nhiệm vào vị trí Phó Chủ tịch xã, bất chấp hồ sơ của ông Q thiếu kinh nghiệm lãnh đạo. Đưa, nhận hối lộ để được bố trí, bổ nhiệm gây hậu quả rất nghiêm trọng (phá vỡ nguyên tắc công tác cán bộ).
Lợi dụng ảnh hưởng Bà P, là vợ của một lãnh đạo cấp tỉnh, sử dụng uy tín của chồng để tác động, gây sức ép lên Hội đồng Tuyển dụng nhằm mục đích buộc Hội đồng phải thay đổi tiêu chí đánh giá, đảm bảo con trai mình (không đạt đủ điểm) được xét tuyển vào vị trí công chức. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn của người thân để tác động, thao túng, can thiệp vào công tác cán bộ, gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Kết luận

Khai trừ là hình thức kỷ luật nghiêm khắc nhất, được áp dụng đối với đảng viên có hành vi vi phạm phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Việc xử lý nghiêm khắc này, kết hợp với nguyên tắc không áp dụng thời hiệu kỷ luật đối với vi phạm Khai trừ, thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Đảng trong việc loại trừ các cá nhân làm suy thoái, tha hóa quyền lực ra khỏi hàng ngũ, củng cố tính liêm chính và kỷ cương trong bộ máy nhà nước. Việc áp dụng hình thức Khai trừ, đặc biệt là theo nguyên tắc không áp dụng thời hiệu kỷ luật đối với những vi phạm này, là một cam kết chính trị mạnh mẽ, củng cố tính răn đe, nâng cao trách nhiệm chính trị suốt đời của đảng viên và khôi phục niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Mọi thắc mắc quý khách hàng có thể liên hệ trực tiếp Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến số Hotline1900.6162 để gặp luật sư tư vấn trực tiếp giải đáp các thắc mắc. Chúng tôi rất hân hạnh khi nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Xin chân thành cảm ơn!