Kính thưa quý khách hàng!
Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:
NỘI DUNG YÊU CẦU
Kính gửi: Công ty Luật Minh Khuê
Vào khoảng 10:00 ngày 28/5/2021 tôi được anh A chỗ ở hiện nay ở TP Đà Nẵng nhờ đổi tiền Trung Quốc 20 vạn tiền trung và đổi ra tiền việt cho anh A (sau khi xảy ra sự việc thì theo lời anh A thì anh A thông qua một người em quen biết một người bạn Trung Quốc qua mạng wechat nhờ anh A đổi hộ một số tiền trung ra tiền việt đó sau đó anh A nhờ tôi và tôi nhờ người quen đổi hộ). Vì trước đó cũng có một vài lần anh A cũng có nhờ tôi đổi hộ rồi nên tôi đồng ý nhận lời, Sau đó tôi có nhờ chị B đổi tiền ở chợ đổi hộ. Chị B đồng ý đổi hộ và thông báo tỷ giá tiền trung ra tiền việt là 1 đồng =3716 vnđ , và tôi báo lại cho anh A là 1 đồng = 3710 vnđ còn 6 lẻ tôi giữ lại là tiền công của tôi, và chị B nhắn cho tôi yêu cầu chuyển vào hai số tài khoản Trung Quốc mỗi tài khoản chuyển vào 10 vạn.
Tiếp đến 15:25’ anh A báo lại tôi là khách của anh A lại muốn đổi tiếp 10 vạn còn lại và hỏi tôi số tài khoản sau đó tôi hỏi chị B lấy số tk Trung Quốc để chuyển tiền vào và chị B nhắn cho tôi số tài khoản XYZ ngân hàng Trung Quốc và sau đó tôi đã chuyển số tài khoản này cho A.
Tiếp đến 16:13’ anh A gửi ảnh giao dịch thành công lại cho tôi và báo kiểm tra tài khoản và tôi có gửi cho chị B để kiểm tra, sau đó đến 16:30’ chị B xác nhận lại với tôi qua tin nhắn zalo là đã nhận đủ tiền.
Và hiện nay chị B yêu cầu tôi hoàn trả lại số tiền mà chị B đã chuyển cho tôi trước đó là 371.600.000vnđ nhưng số tiền đó tôi đã chuyển cho số tài khoản anh A gửi cho tôi chuyển vào là. Nhưng số tiền 365.000.000 vnđ hiện nay không thể liên lạc được với người Trung Quốc kia và không thể lấy lại được nữa và nghi ngờ có tính chất lừa đảo ở đây.
Xin hỏi luật sư là theo như đơn tôi trình báo này thì nay chị B đòi tiền của tôi và kiện tôi đúng hay sai? Nếu sai thì sẽ bị xử lý như thế nào? Và tôi cần làm những gì?
TRẢ LỜI:
CƠ SỞ PHÁP LÝ
- Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017;
- Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
- Pháp lệnh ngoại hối năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2013;
NỘI DUNG TƯ VẤN
Theo quy định của pháp lệnh ngoại hối: Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Điều 3 Thông tư Thông tư 20/2011/TT-NHNN quy định:
“Điều 3. Địa điểm mua, bán ngoại tệ
1. Việc mua ngoại tệ tiền mặt của cá nhân được thực hiện tại các địa điểm được phép bán ngoại tệ tiền mặt thuộc mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng được phép phù hợp với quy định của pháp luật.
2. Việc bán ngoại tệ tiền mặt của cá nhân được thực hiện tại các địa điểm được phép mua ngoại tệ tiền mặt thuộc mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng được phép phù hợp với quy định của pháp luật và các Đại lý đổi ngoại tệ của tổ chức tín dụng được phép.”
Theo quy định này, việc mua bán ngoài tệ của cá nhân phải được thực hiện tại các địa điểm được phép mua bán ngoại tệ tiền mặt thuộc mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng được phép phù hợp với quy định của pháp luật.
Do đó, hoạt động mua bán ngoại tệ trong trường hợp của Qúy khách với cá nhân “chị B” là không đủ điều kiện và không hợp pháp. Hành vi này bị xử phạt theo Điều 23 Nghị định 88/2019/NĐ-CP:
“Điều 23. Vi phạm quy định về hoạt động ngoại hối
1. Phạt cảnh cáo đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau mà ngoại tệ mua, bán có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương);
b) Mua, bán ngoại tệ tại tổ chức không được phép thu đối ngoại tệ mà ngoại tệ mua, bán có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương);
c) Thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) không đúng quy định của pháp luật.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau mà ngoại tệ mua, bán có giá trị từ 1.000 đôla Mỹ đến dưới 10.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau mà ngoại tệ mua, bán có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần;
b) Mua, bán ngoại tệ tại tổ chức không được phép thu đối ngoại tệ mà ngoại tệ mua, bán có giá trị từ 1.000 đôla Mỹ đến dưới 10.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); mua, bán ngoại tệ tại tổ chức không được phép thu đối ngoại tệ mà ngoại tệ mua, bán có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần;
c) Thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) không đúng quy định của pháp luật trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần; thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ có giá trị từ 1.000 đôla Mỹ đến dưới 10.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) không đúng quy định của pháp luật...............”
Tuy nhiên, trong tình huống này của Qúy khách cần xác định rõ yếu tố “Qúy khách biết hay không biết” việc chuyển đổi tiền đó là giả mạo? Điều này rất quan trọng vì trong tình huống này nếu Qúy khách biết mà vẫn cố ý, hỗ trợ anh A thực hiện thì hành vi của Qúy khách có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Nếu Qúy khách không biết, trong tình huống này Qúy khách cũng chỉ là người bị hại như đơn trình báo của Qúy khách đã thể hiện thì không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Chị B đã chuyển tiền cho Qúy khách, chị có quyền yêu cầu đòi lại số tiền trên.
Tuy nhiên, nếu Qúy khách chứng minh được số tiền trên Qúy khách đã chuyển cho anh A, thì Qúy khách có quyền đòi lại số tiền trên từ anh A.
Qúy khách cần tố cáo cơ quan công an, đề nghị làm rõ hành vi của anh A, anh A có cố ý thực hiện hành vi trên hay không? Động cơ, mục đích của anh A trong tình huống này là gì? Điều này rất quan trọng trong tình huống trên.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về “Hành vi mua bán ngoại tệ”. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Trân trọng cảm ơn!
Bộ phận tư vấn Pháp luật
Công ty Luật TNHH Minh Khuê