1. Mức bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Tôi hiện là nhân viên văn phòng tại công ty tư nhân. Công ty có đưa cho tôi hợp đồng lao động thời hạn là 12 tháng. Xin Luật sư tư vấn giúp tôi:

- Quyền lợi và nghĩa vụ của tôi khi ký hợp đồng lao động?

- Công việc hiện tại tôi phải đi lại nhiều nên chưa xác định làm việc lâu dài tại công ty. Nếu tôi ký hợp đồng, tôi bỏ việc trước thời hạn thì tôi có thể phải chịu những hậu quả pháp lý gì?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: hoa

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900.6162.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động - Hình minh họa

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Thứ nhất, quyền lợi và nghĩa vụ của chị khi ký hợp đồng:

Căn cứ Điều 5 Bộ luật lao động 2012. Quyền và nghĩa vụ của người lao động

1. Người lao động có các quyền sau đây:

a) Làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử;

b) Hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể;

c) Thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với người sử dụng lao động, thực hiện quy chế dân chủ và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động;

d) Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật;

đ) Đình công.

2. Người lao động có các nghĩa vụ sau đây:

a) Thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể;

b) Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động, tuân theo sự điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động;

c) Thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế.

Theo đó, khi chị ký kết hợp đồng lao động với thời hạn 12 tháng. Đây là văn bản có giá trị pháp lý quy định các quyền và nghĩa vụ giữa chị và bên sử dụng. Về các quyền và nghĩa vụ chi tiết, còn phải phụ thuộc vào nội dung của từng hợp đồng. Do đó, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của chị sẽ như luật quy định ở trên.

Thứ hai, về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn.

Theo điều 37, Bộ luật lap động 2012 quy định rất rõ về những trường hợp người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng, nếu chị có đầy đủ những lý do nêu tại điều luật này và đồng thời tuân thủ đúng thời hạn báo trước thì chị không phải thực hiện nghia vụ bồi thường với người sử dụng lao động.

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này

Tuy nhiên, nếu không đáp ứng những điều kiện nêu trên, chị sẽ phải thực hiện những nghĩa vụ sau:

Căn cứ Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Điều 62. Hợp đồng đào tạo nghề giữa người sử dụng lao động, người lao động và chi phí đào tạo nghề

1. Hai bên phải ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong trường hợp người lao động được đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động.

Hợp đồng đào tạo nghề phải làm thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản.

2. Hợp đồng đào tạo nghề phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Nghề đào tạo;

b) Địa điểm đào tạo, thời hạn đào tạo;

c) Chi phí đào tạo;

d) Thời hạn người lao động cam kết phải làm việc cho người sử dụng lao động sau khi được đào tạo;

đ) Trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo;

e) Trách nhiệm của người sử dụng lao động.

3. Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài.

=> Như vậy khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật chị sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc. Đồng thời, chị phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Trường hợp chị vi phạm về thời hạn báo trước việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Trường hợp việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động làm vi phạm hợp đồng đào tạo nghề đã ký kết trước đó, chị phải chịu trách nhiệm hoàn trả lại chi phí đào tạo đó theo quy định của pháp luật.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Quy định về chế độ nghỉ việc riêng không hưởng lương trong thời gian thử việc ?

2. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động do không được trả lương đúng hạn ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê. Tôi có một vấn đề muốn được tư vấn như sau: Chị H làm việc tại Công ty PT loại hợp đồng có xác định thời hạn, làm công việc kỹ thuật viên vi tính, địa điểm làm việc tại quận 1 và mức lương được trả là 3.100.000đ trả vào ngày 30 hàng tháng (tháng, dương lịch).
Tuy nhiên, tiền lương hàng tháng chị H được lĩnh bị trễ hơn so với thoả thuận trong hợp đồng lao động. Do đó, qua 03 tháng làm việc chị H quyết định gửi đơn xin nghỉ việc và sau 03 ngày làm việc là chị H đã chấm dứt hợp đồng lao động? Xin luật sư cho biết chị H chấm dứt hợp đồng lao động là đúng hay sai? Vì sao?Căn cứ các quy định pháp luật giải quyết trường hợp này như thế nào để có lợi cho người lao động?
Tôi xin chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn luật lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ quy định tại điều 37, Bộ luật lao động 2012 như sau:

"Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.".

Như vậy, vì không được trả lương đúng thời hạn nên chị H hoàn toàn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên, do hợp đồng giữa chị H và công ty là hợp đồng xác định thời hạn cho nên khi chị H muốn chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do không được trả lương đúng hạn thì phải báo trước ít nhất 30 ngày. Chị H báo trước 3 ngày mà đã nghỉ việc cho nên chị H chấm dứt trái luật theo điểm b, khoản 2, điều 37 Bộ luật lao động 2012.

Khi chấm dứt hợp đồng lao động trái luật thì theo quy định tại điều 43, Bộ luật lao động 2012 thì người lao động có các nghĩa vụ sau đây:

"Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thời gian thử việc không được nhận phụ cấp có đúng luật ?

3. Người lao động chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn ?

Thưa luật sư, Tôi đang làm việc tại một công ty phần mềm của Nhật. Tôi gặp một số vấn đề khi làm việc ở đây. Từ hợp đồng làm việc, tăng ca và cam kết với tôi đều có vấn đề. Tôi quyết định xin nghỉ việc vào ngày 31/03/2016. Vấn đề tôi gặp hiện tại như sau: "Công ty yêu cầu tôi bồi thường phí training khi tôi làm việc ở Nhật".
Tuy nhiên, theo tôi, công ty đã làm sai và còn xử ép nhân viên như sau:
1. Hợp đồng lao động của tôi 1.1. Hợp đồng lao động Thử việc: 23/03/2015 22/05/2015 Chính thức: 23/05/2015 31/12/2016. - Gross salary: 16.125.000 1.2. Phụ lục hợp đồng lao động Từ 01/01/2016 đến 31/03/2016. - Gross salary: 16.125.000 (chế độ bảo hiểm thay đổi). ​1.3 Cam kết làm việc ​ Tu 13/05/2015 => 13/05/2016. Lý do: qua Nhật để được training trong 1,5 tháng.
2. Không dùng hợp đồng lao động khi qua Nhật, tôi không được training mà làm dự án thật. Tôi làm việc sau 5h ngày thứ 2 đến thứ 6. Công ty lại trừ ngày tôi không làm việc thứ 7 (ở Việt Nam thứ 7 không đi làm, nhưng hợp đồng thì có yêu cầu nhân viên có thể sẽ đi training - không phải đi làm).
3, 31/03 tôi nghỉ việc. Tôi không yêu cầu công ty bồi thường mà công ty còn yêu cầu tôi phải bồi thường. Nhờ các anh chị tư vấn giúp em vấn đề này. Công ty làm như vậy có đúng luật không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người lao động chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn ?

Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 37 Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 có quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động như sau:

"1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

.............."

Từ những thông tin bạn cung cấp, có thể xác định loại hợp đồng giữa bạn và công ty là loại hợp đồng xác định thời hạn, bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu thỏa mãn một trong sô các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 37 trên và bạn phải thông báo về việc nghỉ việc của mình cho công ty trước ít nhất là 30 ngày.

Nếu bạn xin thôi việc vì một trong số các lý do trên và đảm bảo về thời hạn báo trước là 30 ngày thì việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của bạn là đúng pháp luật. Bạn sẽ không phải hoàn trả chi phí đào tạo (nếu có hợp đồng đào tạo).
Còn nếu bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không phải vì một trong những lý do được pháp luật quy định hoặc bạn vi phạm về thời hạn báo trước thì có nghĩa là bạn đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Khi đó nghĩa vụ của bạn phải thực hiện sẽ như sau:

"Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này."

Riêng về vấn đề chi phí đào tạo, Điều 62 Bộ luật lao động 2012 có quy định:

"1. Hai bên phải ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong trường hợp người lao động được đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động.

Hợp đồng đào tạo nghề phải làm thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản.

2. Hợp đồng đào tạo nghề phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Nghề đào tạo;

b) Địa điểm đào tạo, thời hạn đào tạo;

c) Chi phí đào tạo;

d) Thời hạn người lao động cam kết phải làm việc cho người sử dụng lao động sau khi được đào tạo;

đ) Trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo;

e) Trách nhiệm của người sử dụng lao động.

3. Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài."

Như vậy hợp đồng đào tạo nghề bắt buộc phải được lập thành văn bản, nếu giữa bạn và công ty không có hợp đồng đào tạo nghề thì bạn không phải bồi thường chi phí đào tạo khi bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật. Công ty yêu cầu bạn bồi thường chi phí đào tạo trong trường hợp này là không đúng quy định pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Mẫu quyết định chấm dứt hợp đồng lao động mới năm 2020

4. Công ty có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động nữ mang thai hay không ?

Chào luật sư. Tôi có vấn đề thắc mắc muốn được luật sư tư vấn. Tôi ký kết với công ty hợp đồng không xác định thời hạn, tôi đang mang thai tháng thứ 6. Do đang mang thai nên tôi có hay mệt mỏi, tuy nhiên không ảnh hưởng đến thời gian, năng suất , kết quả làm việc của công ty. Tuy nhiên, tôi có nhận được thông báo của công ty, rằng công ty sẽ chấm dứt hợp đồng lao động với tôi trong tháng tới. Tôi đi làm đúng giờ, hoàn thành mọi công viêc được giao nhưng công ty vẫn chấm dứt hợp đồng với tôi, tôi không đồng ý với quyết định của công ty.
Tôi muốn hỏi vậy trường hợp này công ty ra quyết định chấm dứt hợp đồng với tôi là đúng hay sai. Trường hợp chấm dứt hợp đồng thì tôi có được hưởng chế độ thai sản nữa không ?
Cám ơn luật sư đã tư vấn giúp tôi.

Trả lời:

Căn cứ khoản 3 điều 155 Bộ luật lao động năm 2012 về bảo vệ thai sản đối với lao động nữ

1. Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong các trường hợp sau đây:

a) Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;

b) Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

2. Lao động nữ làm công việc nặng nhọc khi mang thai từ tháng thứ 07, được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà vẫn hưởng đủ lương.

3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

4. Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không bị xử lý kỷ luật lao động.

Như vậy, pháp luật quy định người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động nữ vì lý do mang thai. Theo như thông tin mà bạn cung cấp, thì công ty của bạn sa thải bạn vì bạn mang thai mặc dù việc mang thai này cũng không ảnh hưởng gì đến công việc , kết quả lao động. Rõ rành hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của công ty bạn là hoàn toàn trái quy định của pháp luật. Trường hợp này bạn hoàn toàn có quyền viết đơn khiếu nại công ty, yêu cầu công ty giải trình bằng văn bản lý do chấm dứt hợp đồng lao động. Nếu công ty giải quyết không thỏa đáng, bạn cũng có quyền gửi đơn khiếu nại đến Phòng lao động thương binh và xã hội để được giải quyết tranh chấp.

Điều 31 Luật bảo hiểm xã hôi năm 2014 quy định về điều kiện hưởng chế độ thai sản:

1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Lao động nữ mang thai;

b) Lao động nữ sinh con;

c) Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;

d) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;

đ) Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biện pháp triệt sản;

e) Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con.

2. Người lao động quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

3. Người lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

4. Người lao động đủ điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các Điều 34, 36, 38 và khoản 1 Điều 39 của Luật này.

Như vậy, điều kiện hưởng chế độ thai sản là lao động nữ phải đóng đủ 6 tháng bảo hiểm xã hội trở lên trong vòng 12 tháng trước khi sinh con. Trường hợp công ty chấm dứt hợp đồng lao động với bạn, nếu bạn đóng đủ 6 tháng bảo hiểm xã hội trở lên trong vòng 12 tháng( 6 tháng không cần liên tục) thì bạn sẽ được hưởng chế độ thai sản.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Nghỉ việc phải báo trước bao nhiêu ngày ? Vi phạm thời gian báo trước thì bị phạt thế nào ?

5. Tư vấn cách xử lý khi bị chấm dứt hợp đồng lao động ?

Chào công ty Cho em hỏi về vấn đề này. Công nhân A làm việc tại cty may B vào tháng 11/201 và đã được ký hợp đồng không xác định thời hạn. Do bận công việc nên từ ngày 12 tới ngày 17/10/2015 công nhân A nghỉ việc mà ko có lý do. Đến tháng 6/2016 công nhân A nhận dc quyết định sa thải do tháng 10/2015 nghỉ 6 ngày liên tiếp không có lý do(dựa vào bảng chấm công của công ty) Trường hợp này công ty B đúng hay sai vậy và lý do tại sao nữa ?
Nhờ công ty luật giúp em giải đáp thắc mắc với ạ

Trả lời:

Điều 38 Bộ luật lao động 2012 quy định:

"1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;....

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng"

Khoản 1 điều 12 nghị định 44/2003/NĐ-CPgiải thích rằng:

"Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động là không hoàn thành định mức lao động hoặc nhiệm vụ được giao do yếu tố chủ quan và bị lập biên bản hoặc nhắc nhở bằng văn bản ít nhất hai lần trong một tháng, mà sau đó vẫn không khắc phục.

Mức độ không hoàn thành công việc được ghi trong hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động của đơn vị."

Như vậy, A nghỉ làm không có lý do 6 ngày, sau 6 ngày đó, A quay lại làm việc bình thường và không bị công ty nhắc nhở bằng văn bản hay lập biên bản gì về việc đó. Tuy nhiên, tới tháng 6 năm 2016, công ty ra quyết định sa thải A mà không báo trước cho A. Hợp đồng của A là hợp đồng lao động không xác định thời hạn nên khi muốn sa thải A, công ty phải báo trước cho A ít nhất 45 ngày. Công ty đã chấm dứt hợp đồng lao động với A trái pháp luật, và vi phạm thời hạn báo trước cho người lao động khi muốn chấm dứt hợp đồng lao động.

Công ty phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 42 Bộ Luật lao đọng 2012:

"1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước."

Nhân vên A vi phạm kỉ luật bị công ty mời lên làm việc, 2 lần đầu nhân viên đó không đi, lần 3 thị bị bệnh không thể đi đc và bị công ty cho nghỉ việc, Sau đó nhân viên A đi kiện công ty đã làm sai luật. Vậy cho hỏi là bên nào đúng và sai
Xin chào các anh chị bên văn phòng luật Minh Khuê. Trong thời gian vừa qua em đã nghỉ việc không lý do hơn khoảng 6 ngày rồi em đi làm trở lại. Em làm được buổi sáng rồi chiều bị ốm đi khám có giấy của bệnh viện cho nghỉ 1 ngày. Hôm sau em đi làm thì không được vào làm, và bị cho thôi việc. Như vậy công ty có vi phạm pháp luật không?

Theo quy định tại Điều 38 Bộ Luật Lao động 2012, Người sử dụng lao động được đơn phương chám dứt hợp đồng lao động với người lao động trong trường hợp sau:

"Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này."

Khoản 1 điều 12 nghị định 44/2003/NĐ-CPgiải thích rằng:

"Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động là không hoàn thành định mức lao động hoặc nhiệm vụ được giao do yếu tố chủ quan và bị lập biên bản hoặc nhắc nhở bằng văn bản ít nhất hai lần trong một tháng, mà sau đó vẫn không khắc phục.

Mức độ không hoàn thành công việc được ghi trong hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động của đơn vị."

Theo thông tin bạn cung cấp, A vi phạm kỷ luật của công ty và đã được mời lên làm việc 02 lần, nhưng A không đến, đến lần thứ 3 thì A ốm, không tới được. Theo quy định tại điều 123 Bộ Luật lao động 2012 thì A đang bị ốm nên công ty không được tiến hành kỷ luật sa thải A. Trong trường hợp này, công ty muốn chấm dứt hợp đồng lao động đối với A thì phải báo trước với A với thời hạn tương ứng cho loại hợp đồng lao động đã ký kết với A. Hành vi vi phạm kỷ luật và cố tình không đến các buổi làm việc về hành vi nói trên không thuộc các trường hợp được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người người sử dụng lao động. Do đó, đây được coi là chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Khi đó, người sử dụng lao động sẽ phải thực hiện các nghĩa vụ tại điều 42 Bộ Luật lao động 2012 cho hành vi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, cụ thể:

"1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước."

cho em hỏi vấn đề anh Nam là người lao động của doanh nghiệp X,Nam có hành vi trộm cắp tài sản của doanh nghiệp x, bị bắt quả tang vào ngày 1/1/2015,ngày 1/2/2015 doanh nghiệp x ra quyết định kỹ luật với hình thức sa thải Nam, Nam kiện doanh nghiệp x ngày 1/3/2015,tòa án xác định quyết định kỷ luật của doanh nghiệp X là sai, hủy quyết định này, sau đó đại diện doanh nghiệp X đã nhận Nam trở lại làm việc Ngày 1/6/2015 doanh nghiệp x tiếp tục sa thải Nam lần nữa ( cũng với lý do trộm cắp tài sản như lần trước).Lần xử lý kỷ luật này có mở phiên họp theo quy định của luật định .trong trường hợp này , việc làm của doanh nghiệp có vi phạm pháp luật không , tại sao? em rất mong nhận được câu trả lời , em cảm ơn ạ
Do bạn không nói rõ, hợp đồng lao động công ty ký với A là hợp đồng lao động loại gì nên chúng tôi không xác định được thời hạn phải báo trước với Nam về quyết định chấm dứt hợp đồng lao động. Theo quy định tại điều 123 Bộ Luật Lao động 2012 về nguyên tắc xử lý ký luật Lao động như sau:

Điều 123. Nguyên tắc, trình tự xử lý kỷ luật lao động

1. Việc xử lý kỷ luật lao động được quy định như sau:

a) Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;

b) Phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở;

c) Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa; trường hợp là người dưới 18 tuổi thì phải có sự tham gia của cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật;

d) Việc xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản.

2. Không được áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với một hành vi vi phạm kỷ luật lao động.

3. Khi một người lao động đồng thời có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật lao động thì chỉ áp dụng hình thức kỷ luật cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất.

4. Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây:

a) Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;

b) Đang bị tạm giữ, tạm giam;

c) Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 Điều 126 của Bộ luật này;

d) Lao động nữ có thai, nghỉ thai sản; người lao động nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.

5. Không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

Như vậy nếu công ty đã tiến hành các thủ tục kỷ luật theo luật định và thực hiện đúng quy định về thời hạn báo trước cho người lao động về việc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại điều 38 Bộ Luật Lao động thì không vi phạm pháp luật lao động về việc sa thải Nam.

Thưa luật sư, tôi đang nuôi con nhỏ 3 tháng và hưởng chế độ tại nhà, tôi ký hợp đồng không xác định thời hạn tại cơ quan là đơn vị đào tạo, đóng bảo hiểm được 9 năm rồi, nhưng tôi muốn nghỉ việc tại đây là đi làm tại chỗ khác trong thời gian sớm nhất. Vậy, kính mong được luật sư tư vấn thủ tục để việc chuyển đi được thuận lợi, nhanh chóng và hợp pháp. Xin chân thành cảm ơn!

Theo quy định tại điều 37 Bộ Luật lao động 2012, Người lao động đưuọc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp sau:

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Như vậy, nếu bạn thuộc một trong cac trường hợp nêu trên thì bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người sử dụng lao động mà không phải bồi thường bất kì khoản chi phí nào cho người sử dụng lao động. Bạn cần báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất 45 ngày trước khi nghỉ việc do loại HĐLĐ của bạn là HĐLĐ không xác định thời hạn. Nếu không thuộc các trường hợp được đơn phương chấm dứt HĐLĐ voiiws người sử dụng lao động mà bạn vẫn muốn nghỉ thì ngoài việc phải thực hiện báo trước cho công ty về quyết định nghỉ việc ít nhất 45 ngày thì bạn còn pahair thực hiện các nghĩa vụ sau:

Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật Lao động - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Phương án chấm dứt hợp đồng lao động hợp tình, hợp lý cho doanh nghiệp