1. Quyền con người

Nhân quyền (hay quyền con người; tiếng Anh: human rights) là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc, nhân quyền là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con người.Trong bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Thomas Jefferson đã đưa ra một nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho sự thành lập chính phủ dân chủ. Các chính phủ trong thể chế dân chủ không ban phát các quyền tự do cơ bản mà Jefferson đã nêu, mà chính các chính phủ đó để bảo vệ các quyền tự do đó – các quyền mà mọi cá nhân "hiển nhiên có" do sự tồn tại của mình.

Như vậy, có thể khái quát, quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế.

2. Khái quát về việc bảo vệ quyền con người

Một trong những đặc điểm của sự phát triển hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người là việc thiết lập hệ thống kiểm soát quốc tế. Hoạt động của hệ thống kiểm soát này được xác định trong Hiến chương Liên hợp quốc và các cơ quan chuyên môn của nó, cũng như trong các điều ước quốc tế khác nhau.

Thực chất trên thực tế việc bảo đảm thực hiện quyền con người thuộc thẩm quyền của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, vấn đề này lại có sự điều chỉnh quốc tế và ở chừng mực nhất định lại là trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Vấn đề đặt ra là hệ thống kiểm soát việc bảo đảm quyền con người được thực hiện thông qua sự thỏa thuận hành động của các quốc gia, sao cho không vi phạm chủ quyền quốc gia và không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia thành viên.

Một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại là nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Tôn trọng chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác là tôn trọng quyền dân tộc tự quyết quyền cơ bản của con người.

Một trong những hình thức kiểm soát phổ biến và việc các quốc gia thông báo cho Tổng thư kí Liên hợp quốc hoặc cơ quan chuyên trách của Liên hợp quốc về việc thực hiện quyền con người ở nước mình.

Theo Nghị quyết số 6248 năm 1965 của Hội đồng Kinh tế - Xã hội, theo khuyến nghị của uỷ ban Nhân quyền, các quốc gia thành viên LHQ có trách nhiệm mỗi năm một lần báo cáo cho Tổng thư ký LHQ theo chu kỳ ba năm:

- Năm thứ nhất: Gồm các thông tin về thực hiện các quyền dân sự và chính trị.

- Năm thứ hai: Các thông tin về thực hiện các quyển kinh tế, xã hội và văn hoá.

- Năm thứ ba: về tự do thông tin. Đề tổng hợp và xử lý các thông tin trên, LHQ thành lập uỷ ban Chuyên trách về báo cáo định kỳ. uỷ ban này có trách nhiệm tổng hợp các thông tin và chuẩn bị dự thảo các nghị quyết của uỷ ban Nhân quyền của LHQ. Tuy nhiên, cả uỷ ban Nhân quyền, các uỷ ban Chuyên trách về báo cáo định kỳ đều không có quyền ra các khuyến nghị cho từng quốc gia đó sau khi thu nhận các thông tin từ họ.

Từ năm 1976 sau khi hai Công ước về các quyền dân sự, chính trị và các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá có hiệu lực, hệ thống báo cáo của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc đến Tổng thư ký Liên hợp quốc được thay đổi theo quy trình mới. Theo Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, các quốc gia thành viên báo cáo về các biện pháp của mình áp dụng và những thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người được ghi nhận trong Công ước.

Trên cơ sở thông tin thu nhận được, Hội đồng Kinh tế - Xã hội có quyền ra khuyến nghị chung cho tất cả các nước. uỷ ban Nhân quyền của Liên hợp quốc cũng chỉ có quyền nhận xét, đánh giá chung vế việc thực hiện quyền con người trong phạm vi toàn thế giới.

Tóm lại, để thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người Liên hợp quốc đã tạo ra cơ chế kiểm soát với nhiệm vụ chính là xem xét các báo cáo của các quốc gia thành viên về thực hiện các Công ước quốc tế về quyền con người. Cơ chế này hoạt động phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, thúc đẩy sự hợp tác của cộng đồng quốc tế để bảo vệ các quyền cơ bản của con người trong thế giới hiện đại.

3. Hệ thống các cơ quan của Liên hợp quốc trong việc bảo vệ quyền con người

Có thể nói các cơ quan của Liên hợp quốc giữ vị trí vô cùng quan trọng trong hợp tác quốc tế bảo vệ quyền con người. Vai trò quan trọng hơn cả thuộc về Đại hội đồng và Hội đồng Kinh tế - Xã hội. Trong phạm vi Liên hợp quốc còn có các cơ quan chuyên trách về hợp tác quốc tế nhằm thúc đẩy việc bảo vệ quyền con người.

Để thực hiện chức năng của mình trong việc bảo vệ quyền con người Liên hợp quốc đã thành lập uỷ ban Nhân quyền trực thuộc Hội đồng Kinh tế - Xã hội. Trong uỷ ban Nhân quyền có các tiểu ban về tự do thông tin và xuất bản, về chống phân biệt chủng tộc và bảo vệ các dân tộc nhỏ. Ngoài uỷ ban Nhân quyền còn có uỷ ban về quyền phụ nữ thuộc Hội đồng Kinh tế - Xã hội.

Phần lớn công việc trong lĩnh vực quyền con người, trong đó có việc thảo luận các vấn đề toàn cầu về quyền con người cũng như việc soạn thảo các văn kiện của Liên hợp quốc đều do uỷ ban Nhân quyền thực hiện.

Các tiểu ban trực thuộc uỷ ban Nhân quyền nghiên cứu từng lĩnh vực riêng lẻ về quyền con người, đó là Tiểu ban về chống phân biệt chủng tộc, Tiểu ban về bảo vệ các dân tộc nhỏ.

Ngoài ra, còn thành lập các tiểu ban tạm thời để xem xét về việc vi phạm quyền con người ở từng nước. Ví dụ, uỷ ban Điều tra vi phạm nhân quyền của Israen tại các vùng chiếm đóng lãnh thổ các nước Á rập.

Các uỷ ban chuyên trách hoạt động thường xuyên để điều tra về việc vi phạm quyền con người các nước. Ví dụ uỷ ban Chuyên trách về chủ nghĩa Apacthai.

Theo Hiến chương Liên hợp quốc trách nhiệm chính về thực hiện hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người thuộc về Đại hội đồng Liên hợp quốc mà trực tiếp là Hội đồng Kinh tế - Xã hội.

Theo Điều 13 Hiến chương LHQ, chức năng của Đại hội đồng là tổ chức nghiên cứu và ra những quyết định, khuyến nghị. Công việc nghiên cứu về bảo vệ quyền con người thuộc về trách nhiệm của Hội đồng Kinh tế - Xã hội, các cơ quan giúp việc phụ trợ của LHQ và Ban thư ký LHQ.

Để thực hiện chức năng của mình trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người. Đại hội đồng có thể thành lập các cơ quan giúp việc, ví dụ uỷ ban Chuyên trách về quá trình thực hiện Tuyên bố về trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa; uỷ ban Chuyên trách về chủ nghĩa Apacthai,...

4. Đại hội đồng

Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc (tiếng Anh: United Nations General Assembly, viết tắt UNGA/GA) là một trong 6 cơ quan chính của Liên Hiệp Quốc. Được thành lập bởi các quốc gia thành viên, Đại Hội đồng triệu tập các kỳ họp thường niên dưới quyền của vị chủ tịch được bầu chọn trong vòng các đại biểu đến từ các quốc gia thành viên.

Là cơ quan duy nhất của Liên Hiệp Quốc có đại diện của tất cả thành viên, Đại Hội đồng có chức năng của một diễn đàn để các thành viên để đạt sáng kiến trong những vấn đề về hòa bình, tiến bộ kinh tế và nhân quyền. Cũng có thể đề xuất các cuộc nghiên cứu, đưa ra những lời khuyên, cổ xúy cho nhân quyền, soạn thảo và phát triển công pháp quốc tế và xúc tiến những chương trình kinh tế, xã hội, văn hóa và giáo dục.

Kỳ họp thường niên của Đại Hội đồng thường bắt đầu vào ngày thứ ba của tháng 9 và kết thúc vào giữa tháng 12 với chức danh Chủ tịch Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc được bầu vào lúc khởi đầu của mỗi kỳ họp. Kỳ họp đầu tiên được triệu tập ngày 10 tháng 1 năm 1946 tại Westminster Central Hall tại Luân Đôn với các đại biểu đến từ 51 quốc gia.

Đại Hội đồng biểu quyết bằng cách bỏ phiếu trong các vấn đề quan trọng - đề xuất hòa bình và an ninh; tuyển chọn thành viên cho các cơ quan; thu nhận, đình chỉ và trục xuất thành viên và các vấn đề ngân sách - cần được thông qua bởi đa số 2/3 số đại biểu có mặt và bỏ phiếu. Các vấn đề khác được quyết định bởi đa số quá bán. Mỗi quốc gia thành viên chỉ có một phiếu. Ngoại trừ việc thông qua các vấn đề về ngân sách bao gồm việc chấp nhận một thang bậc thẩm định, nghị quyết của Đại hội đồng không có giá trị ràng buộc đối với thành viên. Đại hội đồng có thể đề xuất về các sự việc trong khuôn khổ của Liên Hiệp Quốc, ngoại trừ các vấn đề liên quan đến hòa bình và an ninh thuộc thẩm quyền xem xét của Hội đồng Bảo an. Trên lý thuyết, quy chế 1 quốc gia, 1 lá phiếu cho phép các nước nhỏ với dân số tổng cộng chiếm chỉ 8% dân số thế giới có khả năng thông qua nghị quyết với đa số 2/3 trên tổng số phiếu.

5. Hội đồng kinh tế - xã hội

Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hiệp Quốc (tiếng Anh: United Nations Economic and Social Council, viết tắt ECOSOC) là một trong những cơ quan quan trọng nhất của Liên Hiệp Quốc chịu trách nhiệm phối hợp hoạt động của các ban về kinh tế - xã hội, bao gồm 14 ủy ban chuyên môn, ủy ban chức năng và 5 ủy ban khu vực trực thuộc Liên Hiệp Quốc.

Hội đồng Kinh tế và Xã hội có 54 thành viên và tổ chức một cuộc họp lớn kéo dài 4 tuần vào tháng 7 hàng năm.

ECOSOC là cơ quan soạn thảo và điều phối các chính sách thúc đẩy hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và nhân quyền của LHQ. Phần lớn các Nghị quyết và Quyết định của ĐHĐ LHQ về kinh tế, xã hội, nhân quyền, nhân đạo đều bắt nguồn từ các khuyến nghị do ECOSOC trình lên.

Mỗi nước thành viên ECOSOC có một phiếu. ECOSOC thông qua quyết định theo đa số những thành viên có mặt tham gia bỏ phiếu.

ECOSOC có 2 phiên họp trong một năm: phiên họp về nội dung (substantive session) được tổ chức trong vòng 4 tuần vào khoảng tháng 7, luân phiên ở New York và Geneva, và trước đó là phiên họp về tổ chức (organizational session) diễn ra trong 4 ngày thường vào đầu tháng 2 và được họp lại vào khoảng cuối tháng 4, đầu tháng 5 hàng năm.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)