- 1. Tạm hoán hợp đồng lao động là gì?
- 2. Quyền, nghĩa cụ của các bên khi tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động
- 3. Các trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động
- 4. Nhận lại người lao động sau khi hết thời hạn tạm hoãn hợp đồng
- 5. Chấm dứt hợp đồng lao động khi hết thời hạn tạm hoãn mà người người lao động không có mặt?
1. Tạm hoán hợp đồng lao động là gì?
Theo cách hiểu thông thường tạm hoãn hợp đồng lao động là việc tạm dừng thực hiện hợp đồng lao động trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận giữa hai bên hoặc theo thỏa thuận giữa hai bên hoặc theo quy định của pháp luật.
Việc tạm hoãn hợp đồng lao động sẽ không bị hủy bỏ hay mất hiệu lực hợp đồng lao động đã ký kết giữa người sử dụng lao động và người lao động. Khi hết thời hạn tạm hoãn, người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc. Nếu người lao động không đến đơn vị thì hợp đồng lao động có thể chấm dứt theo quy định chung. Riêng trường hợp tạm hoãn vì người lao động bị tạm giam, tạm giữ thì việc nhận lại người lao động phụ thuộc vào lỗi của người lao động và tính liên quan đến công việc trong quan hệ lao động. Nếu việc tạm giam liên quan đến quan hệ lao động và người lao động không có lỗi thì người sử dụng nhận họ trở lại làm việc cũ.
Khi thỏa thuận tạm hoãn hợp đồng lao động, người sử dụng lao động (người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền) và người lao động (người đang làm việc theo chế độ hợp đồng lao động và đóng đủ bảo hiểm xã hội đến trước thời điểm tạm hoãn) phải ký văn bản thỏa thuận để thống nhất về thời gian tạm hoãn, lý do tạm hoãn, quyền, trách nhiệm, lợi ích của hai bên cho phù hợp với quy định của pháp luật và thực tiễn.
2. Quyền, nghĩa cụ của các bên khi tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động
* Trong thời hạn tạm hoãn:
Trong thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động không được hưởng lương và quyền, lợi ích đã giao kết trong hợp đồng lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác (Theo khoản 2 Điều 30 Bộ luật Lao động năm 2019).
Nếu người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng bảo hiểm xã hội tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ thai sản (Theo khoản 3 Điều 85 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và khoản 4 Điều 42 văn bản hợp nhất số 2089/VBHN-BHXH ngày 26/6/2020 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam).
Trường hợp có những quy định mới của cấp có thẩm quyền tại thời điểm thỏa thuận tạm hoãn hợp đồng lao động thì thực hiện theo quy định mới trên nguyên tắc thỏa thuận theo hướng có lợi nhất cho người lao động.
* Sau khi tạm hoãn:
Theo Điều 31 Bộ luật Lao động 2019 quy định quyền và nghĩa vụ các bên "Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc và người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng lao động đã giao kết nếu hợp đồng lao động còn thời hạn, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác".
- Đối với người lao động:
+ Phải có mặt tại nơi làm việc trong thời hạn theo thỏa thuận;
+ Trường hợp không thể có mặt tại nơi làm việc đúng thời hạn thì phải thỏa thuận với người sử dụng lao động về thời điểm có mặt.
- Đối với người sử dụng lao động"
+ Phải nhận người lao động trở lại làm việc;
+ Bố trí công việc theo hợp đồng đã giao kết nếu hợp đồng lao động còn thời hạn.
* Lưu ý: Nếu hai bên có thỏa thuận về công việc mới cần sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã giao kết hoặc giao kết hợp đồng mới; Nếu không nhận lại người lao động trở lại làm việc sau khi hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động (trừ trường hợp người sử dụng lao động và người lao động có thỏa thuận khác) người sử dụng lao động sẽ bị phạt hành chính với mức tiền 03 - 07 triệu đồng (Điểm b Khoản 2 Điều 10 Nghị định 28/2020/NĐ-CP). Ngoài ra, người sử dụng lao động còn buộc phải trả lương cho người lao động trong những ngày không nhận người lao động trở lại làm việc sau khi hết thời hạn tạm hoãn hợp đồng lao động.
3. Các trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động
Các trường hợp tạm hoãn hợp đồng lao động được quy định tại Điều 30 Bộ luật Lao động năm 2019 bao gồm:
+ Người lao động thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ thì được tạm hoãn hợp đồng lao động để thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ, thực hiện nghĩa cụ của pháp luật.
+ Người lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự để tiến hành điều tra, truy tố và xét xử thì sẽ phải tạm hoãn hợp đồng lao động để tiến hành thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Người lao động phải chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc sẽ phải tạm hoãn hợp đồng lao động để chấp hành các quyết định này.
+ Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi;
+ Người lao động được bổ nhiệm làm người quản lý doanh nghiệp của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;
+ Người lao động được ủy quyền để thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp thì sẽ phải tạm hoãn hợp đồng lao động để thực hiện trách nhiệm đại diện của mình.
+ Người lao động được ủy quyền để thực hiện quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với phần vốn của doanh nghiệp đầu tư tại doanh nghiệp khác;
+ Trường hợp khác do người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận.
Trong thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động không được hưởng lương và quyền, lợi ích đã giao kết trong hợp đồng lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra quy định cụ thể trong luật về trường hợp tạm hoãn khi người lao động được bổ nhiệm làm người quản lý doanh nghiệp nhà nước, hay ủy quyền quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp thay vì nêu tại Nghị định.
* Lưu ý: Trong thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động không được hưởng lương và quyền, lợi ích đã giao kết trong hợp đồng lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận pháp luật có quy định khác.
4. Nhận lại người lao động sau khi hết thời hạn tạm hoãn hợp đồng
Nhận lại người lao động hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động được quy định tại Điều 31 Bộ luật Lao động năm 2019 như sau:
"Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc và người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng lao động đã giao kết hợp đồng lao động còn thời hạn, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác".
Như vậy, sau khi hết thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, trong vòng 15 ngày, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc. Cùng với đó, nếu không có thỏa thuận nào khác, thời hạn hợp đồng lao động vẫn còn thì công ty phải nhận lại người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng đã giao kết trước đó.
Do vậy, trường hợp công ty không nhận lại người lao động quay lại làm việc được coi là hành vi vi phạm pháp luật và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Cụ thể tại điểm b Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/3/2020 về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hổi, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở ngước ngoài theo hợp đồng quy định hành vi vi phạm quy định về thực hiện hợp đồng lao động của người sử dụng lao động như sau:
"Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
b) Không nhận lại người lao động trở lại làm việc sau khi hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, trừ trường hợp người sử dụng lao động và người lao động có thỏa thuận khác".
Có thể hiểu đối với hành vi không nhận người lao động trở lại làm việc mà không phải lỗi do người lao động, tức ý chí không nhận lại người lao động quay trở lại làm việc xuất phát từ người sử dụng lao động, sau khi hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động vẫn không cho người lao động quay trở lại làm việc thì người sử dụng lao động sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng và phải nhận người lao động quay trở lại làm việc theo quy định của pháp luật.
Cụ thể hơn tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/3/2020 quy định mức phạt tiền đối với các "hành vi vi phạm quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV của Nghị định này là mức phạt đối với cá nhân, trừ trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 Điều 6; khoản 3, 4, 6 Điều 12; khoản 2 Điều 24; khoản 1 Điều 25; khoản 1, 5, 6, 7 Điều 26; khoản 5 Điều 40; các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 41; khoản 2, 4 Điều 42 của Nghị định này. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân". Dẫn chiếu theo điều này thì đối với người sử dụng lao động có hành vi không nhận lại người lao động trở lại làm việc sau khi hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động thì sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. theo điều này thì mức phạt tiền đối với tổ chức sẽ gấp 02 lần cá nhân khi bị phạt khi không nhận người lao động trở lại làm việc sau khi hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.
Ngoài ra, người sử dụng lao động còn phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với những ngày mà người lao động không được quy trở lại làm việc cũng như phải chi trả các khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, liên quan đến những ngày mà người lao động không được quay trở lại làm việc theo quy định của Bộ luật lao động 2019. Nếu người lao động không đồng ý quay trở lại làm việc sau khi người sử dụng lao động vi phạm thì người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và người sử dụng lao động vẫn phải chi trả cho người lao động các khoản tiền tương ứng nêu trên và vẫn phải chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động theo đúng quy định của Bộ luật Lao động. Người sử dụng lao động không thực hiện các nghĩa vụ này thì người lao động có thể khiếu nại tới Thanh tra lao động của Sở Thương Binh Lao động và Xã hội để được giải quyết quyền lợi.
5. Chấm dứt hợp đồng lao động khi hết thời hạn tạm hoãn mà người người lao động không có mặt?
Căn cứ vào điểm d khoản 1 và khoản 3 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2019, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động không có mặt tại nơi làm việc thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không phải báo trước cho người lao động.
Như vậy, so với Bộ luật Lao động năm 2012 (Điều 38), thì Bộ luật Lao động năm 2019 tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động không tuân thủ quy định về thời hạn tạm hoãn hợp đồng lao động, không cần phải báo trước với người lao động (Bộ luật Lao động năm 2012 buộc phải báo trước cho người lao động).
Với việc quy định như trên sẽ bảo đảm đủ tính răn đe cho những người lao động không tuân thủ quy định của pháp luật, nội quy của người sử dụng lao động.
Trong trường hợp bạn còn bất kỳ câu hỏi nào liên quan đến vấn đề này hay các vấn đề khác như doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình, dân sự, hình sự, bảo hiểm,.. cần giải đáp về mặt pháp lý các bạn đừng ngần ngại nhấc máy lên và gọi tới số tổng đài tư vấn hỗ trợ pháp lý về Luật Lao động 1900.6162 để được đội ngũ luật sự và chuyên viên tư vấn pháp lý với nhiều năm kinh nghiệm trong nghề. Chúng tôi rất hân hạnh được đồng hành cùng quý khách hàng. Trân trọng!