- 1. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
- 2. Phương thức thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
- 3. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên năm 1980
- 4. Về vấn đề áp dụng luật CISG hay luật Việt Nam khi xem xét một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
- 5. Các điều khoản cơ bản của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Tôi muốn áp dụng hình thức thanh toán T/T ở lần thanh toán thứ nhất (đặt cọc), sau đó ở giai đoạn sau là L/C, nhằm đẩy tiến độ có được không; và ưu nhược điểm là gì; có lựa chọn nào tốt hơn? Xin cảm ơn!
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sự Công ty Luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi:1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (còn được gọi là hợp đồng mua bán ngoại thương hoặc hợp đồng xuất nhập khẩu) là hợp đồng mua bán hàng hoá có tính chất quốc tế (có yếu tố nước ngoài, có nhân tố nước ngoài). Tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được hiểu không giống nhau tuỳ theo quan điểm của luật pháp từng nước.
2. Phương thức thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Việc áp dụng hình thức thanh toán nào trong một hợp đồng thương mại hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, không có một quy định cứng nào của pháp luật về vấn đề này. Tùy thuộc vào điều kiện mà các bên sẽ đưa ra sự thỏa thuận về hình thức thành toán hợp lý nhất. Để xem xét xem nên áp dụng phương thức thành toán nào sau đây chúng tôi xin đưa ra ưu nhược, điểm của các hình thức thanh toán để bạn có thể đưa ra sự lựa chọn tốt nhất:
Phương thức tín dụng chứng từ (Letter of Crediit):
Theo phương thức này thì một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng), theo yêu cầu của khách hàng (bên yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những qui định của thư tín dụng. Thanh toán bằng L/C llà một phương thức tương đối an toàn cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu. Tuy nhiên, để sử dụng hiệu quả L/C, đồng thời để bảo đảm lợi ích của mình khi sử dụng L/C như là một phương thức thanh toán, các bên nên lưu ý một số vấn đề được nêu sau đây.
Đối với nhà nhập khẩu thì phải làm thủ tục soạn và nộp đơn yêu cầu phát hành thư tín dụng. Thực ra đơn yêu cầu phát hành thư tín dụng theo mẫu chuẩn quốc tế (Standafo, Standaci) nên nhà nhập khẩu chỉ phải điền nội dung cần thiết vào chỗ trống và xóa đi những thông tin không cần thiết. Để bảo đảm tính chính xác của đơn và sau này là thư tín dụng (L/C), nhà nhập khẩu phải dựa trên cơ sở các nội dung của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế để lập đơn, tránh mọi sự sai khác.
Đặc biệt lưu ý đối với nhà xuất khẩu (người thụ hưởng trong L/C), cần phải kiểm tra kỹ lưỡng thư tín dụng. Bởi vì nếu có sự không phù hợp giữa L/C và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà nhà xuất khẩu không phát hiện ra được mà cứ tiếp tục giao hàng thì nhà xuất khẩu sẽ khó đòi được tiền hoặc ngược lại nếu từ chối giao hàng thì vi phạm hợp đồng.
Phương thức chuyển tiền (remittance):
Trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, theo phương thức này, nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do nhà nhập khẩu quy định.
Phương thức chuyển tiền có thể là bộ phận của phương thức thanh toán khác như phương thức nhờ thu, tín dụng dự phòng, tín dụng chứng từ… nhưng cũng có thể là một phương thức thanh toán độc lập.
Thực tế, nhiều trường hợp, nhà nhập khẩu sẽ không chuyển tiền hàng cho nhà xuất khẩu cho đến khi nhận đầy đủ hàng. Đây là một lợi thế của nhà nhập khẩu nhưng lại là rủi ro của nhà xuất khẩu khi hàng hóa đã được chuyển giao nhưng tiền hàng không được thanh toán, bị chậm trễ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ. Tuy vậy, bên nhập khẩu cũng có thể gánh chịu rủi ro, đặc biệt trong trường hợp chuyển tiền trước khi giao hàng như: nhận toàn bộ tiền hàng trước khi giao hàng, đặt cọc, tạm ứng… Trong trường hợp này nhà nhập khẩu có thể sẽ phải gánh chịu rủi ro nếu tiền đã chuyển mà hàng không được giao đúng thời hạn, đúng chất lượng hoặc số lượng…
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.
3. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên năm 1980
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất quốc tế. Tính chất quốc tế của một hợp đồng mua bán được xác định phụ thuộc vào từng quy định quốc gia và quốc tế. Cụ thể, theo Công ước Viên năm 1980 (sau đây gọi là CISG) thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau (điều khoản về phạm vi áp dụng của Công ước này). Từ quy định này, có nhiều quốc gia, học giả cho rằng yếu tố quốc tế của một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được xác định giữa trên trụ sở chính của các bên chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế chứ không phải yếu tố quốc tịch. Quan niệm này dựa trên căn cứ tình hình thực tế khi hiện nay các bên chủ thể tham gia quan hệ mua bán quốc tế thường có nhiều quốc tịch (các công ty đa quốc gia). Tuy nhiên, CISG có phạm vi áp dụng cho các quốc gia thành viên công ước và cả trong các trường hợp hợp đồng có quy định sẽ áp dụng CISG để điều chỉnh hợp đồng vì vậy quy định của CISG không nhất thiết bắt buộc trong mọi hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tuy nhiên, căn cứ vào trụ sở kinh doanh chính cũng là một trong số những căn cứ được nhiều quốc gia sử dụng để xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
4. Về vấn đề áp dụng luật CISG hay luật Việt Nam khi xem xét một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Về cơ bản nếu hợp đồng thương mại hóa quốc tế mà các bên trong hợp đồng có trụ sở tại Việt Nam và các nước là thành viên của CISG thì luật của CISG được áp dụng. Trong trường hợp, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không thuộc phạm vi áp dụng của CISG thì pháp luật Việt Nam được áp dụng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thuộc phạm vi áp dụng của CISG nhưng các bên trong hợp đồng có thể loại trừ sự áp dụng này, và thỏa thuận pháp luật quốc gia điều chỉnh hợp đồng, khi đó pháp luật Việt Nam có thể được áp dụng.
Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất quốc tế. Tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được xác định khác nhau tùy thuộc vào pháp luật từng quốc gia và điều ước quốc tế. Bài viết đã nêu cụ thể về việc xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo CISG và pháp luật Việt Nam.
5. Các điều khoản cơ bản của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Về hình thức và nội dung của hợp đồng có thể là khác nhau giữa các hàng hóa hay doanh nghiệp nhưng một bản hợp đồng sẽ bao gồm những nội dung căn bản như sau:
* Điều khoản về tên hàng (Commodity):
Ghi tên hàng bao gồm: tên thông thường, tên thương mại, tên khoa học. Đặc biệt đối với hàng hóa chất, thực vật động vật phải có tên khoa học trên chứng từ.
Ghi tên hàng kèm với nơi sản xuất ra nó có ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm; Ghi tên hàng kèm theo quy cách của hàng hóa đó; Ghi tên hàng kèm theo quy cách của hàng hóa đó; Ghi tên hàng kèm theo công dụng; Ghi tên hàng kèm nhãn hiệu; Ghi tên hàng kèm mã HS code.
* Điều khoản về phẩm chất (Quanlity):
Dựa vào mẫu hàng; Dựa vào các hệ thống tiêu chuẩn (TCVN, QCVN,...); Dựa vào nhãn hiệu; Dựa vào tài liệu kỹ thuật; Dựa vào hàm lượng các chất chủ yếu có trong hàng; Dựa vào hiện trạng của hàng hóa; Dựa vào dung trọng (Trọng lượng tự nhiên/Đơn vị thể tích; Dựa vào xem xét trước; Dựa vào các tiêu chuẩn đại khái quen dùng; Dựa vào sự mô tả hàng hóa.
* Điều khoản về số lượng (Quantity):
- Quy định về đơn vị tính của từng loại hàng hóa.
Trường hợp hàng hóa giao dịch được tính theo độ dài hoặc khối lượng thì phải quy định kèm theo hệ thống đơn vị đo lường được hai bên lựa chọn.
- Quy định về phỏng chừng: ± Dung sai %.
Đối với hàng hóa xác định theo trọng lượng:
Trọng lượng cả bao bì (Gross Weight): bao gồm toàn bộ hàng hóa và đóng gói.
Trọng lượng tịnh (Net Weight): trọng lượng hàng hóa đối với đóng gói nhỏ nhất.
Trọng lượng tịnh thuần túy (Net net weight): trọng lượng hàng hóa không bao gồm bao bì.
Trọng lượng lý thuyết: dựa vào lý thuyết hoặc thiết kế của hàng hóa.
Trọng lượng thương mại: GTM = Gtt*(100+Wtc)/(100+Wtt)
Gtt: Trọng lượng thực tế của hàng hóa.
Wtc: Độ ẩm tiêu chuẩn của hàng hóa (%)
Wtt: Độ ẩm thực tế của hàng hóa (%)
* Điều khoản giao hàng (Shipment/Delivery):
- Thời hạn giao hàng: Giao hàng định kỳ: xác định thời hạn giao hàng vào một khoảng (mốc) thời gian nhất định.
Giao hàng theo điều kiện: xác định thời hạn giao hàng theo một điều kiện nhất định. Ví dụ: Giao sau 20 ngày kể từ ngày mở L/C, sau 2 tuần kể từ ngày xác nhận đơn đặt hàng.
Giao hàng theo thuật ngữ: giao nhanh (prompt), giao ngay lập tức (immediately), giao càng sớm càng tốt (as soon as possible/ASAP).
Địa điểm giao hàng: Dựa theo điều kiện thương mại quốc tế mà hai bên lựa chọn.
Địa điểm phải được xác định trước và chỉ dẫn cụ thể.
- Giao hàng từng phần (nếu có): quy định mỗi lần giao hàng về số lượng, thời gian, địa điểm.
* Điều khoản về giá cả (Price):
Cần thể hiện: đơn vị tiền tệ của giá cả; mức giá; phương pháp quy định giá cả; khoản giảm giá; điều kiện cơ sở giao hàng tương ứng.
* Điều khoản thanh toán (Payment):
Quy định đồng tiền thanh toán; thời hạn trả tiền; hình thức trả tiền; các chứng từ làm căn cứ trả tiền.
* Điều khoản bao bì và mã ký hiệu (Packing and Marking):
Quy định: yêu cầu về chất lượng bao bì sử dụng để đóng gói; phương thức cung cấp bao bì (một lần hay quay vòng); giá cả bao bì (giá cho đóng gói bổ sung, mua vật liệu đóng gói); ký mã hiệu trên bao bì (nhãn ship hàng, nhãn thông tin hàng hóa).
* Điều khoản về bảo hành (Warranty):
- Quy định loại bảo hành:
Bảo hành thông thường: bảo hành về chất lượng của hàng hóa trong thời gian nhất định.
Bảo hành cơ khí: bảo hành về mặt kỹ thuật gia công chế biến đối với hàng hóa có quy cách phẩm chất phức tạp.
Bảo hành thực hiện: bảo hành về công suất của máy móc thiết bị trong thời gian nhất định.
- Quy định thời hạn bảo hành.
- Quy định lỗi loại trừ bảo hành.
* Điều khoản về phạt và bồi thường thiệt hại (Penalty):
* Điều khoản về bảo hiểm (Insurance):
* Điều khoản bất khả kháng (Force Majeure):
Quy định các trường hợp gây ảnh hưởng tới việc thực hiện nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mà các bên không phải chịu trách nhiệm về các tổn thất trong trường hợp đó.
Các trường hợp miễn trừ trách nhiệm thường do yếu tố thiên tai, chiến tranh, đình công,...
Liên quan đến quá trình giao nhận hàng hóa, bên vi phạm có thể xin “bảng kê sự kiện ảnh hưởng tới việc xếp dỡ hàng của tàu” từ đơn vị vận chuyển để làm căn cứ miễn trừ trách nhiệm trong trường hợp gây ảnh hưởng tới các thỏa thuận quy định tại hợp đồng.
* Điều khoản về khiếu nại (Claim):
* Trọng tài (Arbitration):
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê