1. Thế nào là công đoàn cơ sở?

Tại Luật Công đoàn 2012, tại Điều 1 có đưa ra định nghĩa về công đoàn như sau: công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Công đoàn cơ sở là tổ chức cơ sở của Công đoàn, tập hợp đoàn viên công đoàn trong một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, được công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở công nhận theo quy định của pháp luật và Điều lệ Công đoàn Việt Nam. Công đoàn cơ sở được tổ chức trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức khác có sử dụng lao động thei quy định của pháp luật về lao động, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.

2. Quy định của pháp luật về điều kiện thành lập công đoàn cơ sở

Không phải lúc nào cũng có thể thành lập công đoàn cơ sở, việc thành lập công đoàn cơ sở chỉ được thục hiện khi đáp ứng được đầy đủ các quy định của pháp luật. Cụ thể, tại Điều 11 Công văn số 03/HD - TLĐ ngày 20 tháng 02 năm 2020 hướng dẫn về thi hành điều lệ công đoàn Việt Nam có quy định:

Công đoàn cơ sở được thành lập trong các đơn vị sử dụng lao động bao gồm:

- Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế bao gồm cả các công ty con trong nhóm công ty; chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp có trụ sở đặt tại địa phương khác. Việc pháp luật quy định các công ty con, các chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp có trụ sở đạt tại địa phương khác cũng được thành lập côn đoàn cơ sở, bởi mục đích ra đời của công đoàn cơ sở là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Trong qua hệ lao động, các doanh nghiệp, nhìn từ góc độ nào đó là bên chủ động nhiều hơn và thường là bên có khả năng áp đặt các yêu cầu của mình nhiều hơn, do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động nói chung, pháp luật có quy định các doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế trong phân biệt thành phần kinh tế nhà nước hay tư nhân kể các các công ty con, các chi nhánh, văn phòng đại diện mà có sợ trở đặt tại địa phương khác có thể thành lập công đoàn cơ sở.

- Hợp tác xã sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động. Theo quy định tại Điều 3 Luật Hợp tác xã 2012, hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự nghiệp, tự chụi trách nhiệm, bình đẳng và tôn trọng pháp luật. Như vậy, theo quy định của pháp luật hợp tác xã được phép thành lập công đoàn cơ sở.

- Đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập hạch toán đăch biệt. Đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại khỏa 1 Điều 9 Luật viên chức được hiểu là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp các dịch vụ công, phụ vụ quản lý nhà nước. Đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập hạch toán đặc biệt thuộc đối tươnghj được thành lập công đoàn cơ sở.

- Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị - xã hộ, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được tổ chức thành lập công đoàn cơ sở. Việc thành lập công đoàn cơ sở tại các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị kể trên nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các cán bộ, công chức. Thực chất cán bộ, công chức là người lao động nhưng công việc của họ mang tính chất quyền lực nhà nước, do đo, họ cần cần phải được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước sự xâm phạm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Do đó, pháp luạt quy định các cơ quan nhà nước và các cơ sở kể trên được phép lập công đoàn cơ sở.

- Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam. Trước xu thế hội nhập sâu rộng, hiện nay, tại nước ta có rất nhiều các doanh nghiệp nước ngoài, các tổ chức nước ngoài do đó, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người lao động trong các tổ chức nước ngoài, và tạo sự bằng đẳng trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp giữa người lao động làm việc tại các tổ chức trong nước và lao động làm việc cho tổ chức nước ngoài, pháp luật cho phép cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam được tổ chức công đoàn cơ sở.

- Các cơ quan tổ chức khác có sử dụng lao động theo quy định của pháp luâth về lao động được thành lập công đoàn cơ sở.

Ngoài ra, nếu đơn vị sử dụng lao động không đủ điều kiện thành lập công đoàn cơ sở hoặc theo nguyện vọng liên kết của người lao động, có thể thành lập công đoàn cơ sở ghép trong nhiều đơn vị sử dụng lao động.

3. Quy định của pháp luật về hồ sơ đề nghị công nhận công đoàn cơ sở

Theo quy định, hồ sơ công nhận việc thành lập công đoàn cơ sở bao gồm:

- Văn bản đề nghị công nhận đoàn viên, công đoàn cơ sở và kết quả bầu cử ban chấp hành, ban thường vụ, ủy ban kiểm tra và các chức danh của ban chấp hành, ủy ban kiểm tra công đoàn. Để thành lập công đoàn, các bước bao gồm tổ chức đại hội để bầu ban thường vụ, phó chủ tịch, ủy ban kiểm tra và chủ nhiệm ủy ban kiểm tra và chủ nhiệm ủy ban kiểm tra công đoàn (nếu đủ điều kiện). Sau đó trong vòng 10 ngày làm việc phải tiến hành tổ chức họp ban chấp hành côn đoàn cơ sở và trong vòng 15 ngày làm việc kể khi kết thúc đại hội, ban chấp hành phải lập hồ sơ đề nghị công đoàn cấp trên xem xét, công nhận. 

- Danh sách đoàn viên và đơn xin gia nhập Công đoàn Việt Nam của người lao động. Một trong những nguyên tắc hoạt động của Công đoàn Việt Nam là sự tự nguyện và bình đăng, do đó, việc tham gia vào Công đoàn hoàn toàn dựa trên sự monh muốn và nhu cầu của người lao động, nếu việc gia nhập công đoàn của người lao động là do sự ép buộc, thành viên đó sẽ không được chấp nhận, vì vậy kèm theo danh sách đoàn viên, cần nộp kèm đơn xin gia nhập công đoàn Việt Nam của người lao động.

- Danh sách trích ngang lý lịch ủy viên ban chấp hành, ban thường vụ, ủy viên ban kiểm tra công đoàn cơ sở. Đây là cơ sở để Công đoàn Việt Nam có thể đảm bảo việc quản lý của các công đoàn cơ sở, đúng như các nguyên tắc và mục tiêu mà công đoàn đã đặt ra trong Điều lệ của mình và theo quy định của pháp luật.

- Biên bản thành lập đại hội công đoàn cơ sở. Đại hội công đoàn cơ sở quyết định mọi vẫn đề quan trọng của công đoàn cơ sở, do đó để đảm bảo tính hợp pháp của đại hội thành lập công đoàn cơ sở trong việc xét đề nghị thành lập công đoàn cơ sở, do đó cần phải có biên bản thành lập hồ sơ công đoàn cơ sở trong hồ sơ để xét công nhận thành lập công đoàn cơ sở.

- Biên bản kiểm tra phiếu bầu cử tại đại hội thành lập công đoan cơ sở và biên bản bầu cử tại hội nghị ban chấp hành (nếu có)

Trên đây là một số vấn đề về công đoàn cơ sở và hồ sơ đề nghị xét công nhận công đoàn cơ sở. Để có thể nắm rõ hơn về vấn đề này, tham khảo bài viết: Công đoàn cơ sở là gì? Công đoàn là gì? Công đoàn ngành là gì?

Mọi thắc mắc liên hệ tổng đài 19006162 hoặc địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp chi tiết.

Trân trọng.