1. Hợp đồng tặng cho tài sản là gì?

Tặng cho tài sản được thực hiện thông qua hợp đồng tặng cho tài sản. Khoa học pháp lý xếp tặng cho tài sản là một loại hợp đồng thông dụng, có đặc điểm riêng biệt so với những loại hợp đồng thông dụng khác.

Trong các hợp đồng thông dụng, tặng cho tài sản là một hợp đồng có những đặc điểm riêng biệt... Tặng cho tài sản làm phát sinh quan hệ hợp đồng khi bên được tặng, cho nhận tài sản. Hợp đồng tặng cho là hợp đồng thực tế, sau khi các bên đã thoả thuận về việc tặng cho mà chưa chuyển giao tài sản, không làm phát sinh quyền của các bên. Vì vậy, hợp đồng được coi là kí kết khi các bên chuyển giao tài sản. Thời điểm chuyển tài sản cũng đồng thời là thời điểm chấm dứt hợp đồng (đối với động sản). Điều 457 Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS 2015) quy định:

“Điều 457. Hợp đồng tặng cho tài sản

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.”

Hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng không có đền bù. Đặc điểm này được thể hiện ở việc một bên chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản cho bên được tặng cho còn bên được tặng cho không có nghĩa vụ trả lại bên tặng cho bất kì lợi ích nào.

Hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng thực tế. Khi bên được tặng cho nhận tài sản thì quyền của các bên mới phát sinh. Do vậy. mọi thỏa thuận chưa có hiệu lực khi chưa giao tài sản.

2. Đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản

Đối tượng của hợp đồng tặng cho có thể là động sản hoặc bất động sản theo Điều 458 và 459 BLDS 2015

2.1. Tặng cho động sản

Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.

2.2. Tặng cho bất động sản

Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.

Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản

Lưu ý:

– Đối tượng của hợp đồng tặng cho có thể là quyền tài sản (quyền yêu cầu của người khác). Trường hợp này được điều chỉnh bởi các quy định về chuyển quyền yêu cầu. Sau khi tặng cho, người được tặng cho rở thành người có quyền đối với bên có nghĩa vụ.

– Đối tượng tặng cho là quyền sử dụng đất thì khi tặng cho phải tuân theo quy định Luật đất đai 2013.

3. Hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản

Hình thức của hợp đồng tặng cho phụ thuộc vào đối tượng của nó. Nếu đối tượng của hợp đồng tặng cho là động sản thì hợp đồng tặng cho có thể bằng miệng, văn bản. Nếu đối tượng của hợp đồng là tài sản phải đăng kí quyền sở hữu hoặc là bất động sản thì hình thức của hợp đồng tặng cho phải là văn bản có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

4. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng tặng cho tài sản

- Là hợp đồng không có đền bù: Khi bên tặng cho chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản cho bên được tặng cho thì bên được tặng cho không có nghĩa vụ trả lại cho bên tặng cho bất kì lợi ích nào.

- Là hợp đồng thực tế: Khi bên được tặng cho nhận tài sản thì khi đó quyền của các bên mới phát sinh.

5. Hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản

Thứ nhất: về điều kiện tặng cho:

Theo quy định Bộ luật dân sự năm 2015 đốì vối tặng cho tài sản có điều kiện thì “Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện đó không được trái pháp luật, đạo đức xã hội” (khoản 1 Điều 462 Bộ luật dân sự năm 2015). Đối với các điều kiện “Không được trái pháp luật” còn có thể xác định được khi căn cứ vào pháp luật; còn đối vối các điều kiện “Không được trái với đạo đức xã hội”, quy định như vậỳ còn quá chung chung, và trừu tượng. Bỏi vì, các chuẩn mực về đạo đức vốn khó xác định và các quy chuẩn đạo đức luôn thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội. Đồng thòi, mỗi vùng miền có một hoàn cảnh địa lý, điều kiện sinh sống tạo nên phong tục tập quán khác nhau, nên các nghĩa vụ tặng cho có thể có các điều kiện khác nhau. Mặt khác, điều kiện tặng cho tuy không trái pháp luật và đạo đức xã hội, nhưng nhiều khi người được tặng cho không thể thực hiện vì nằm ngoài khả năng của họ. Ví dụ, điều kiện đặt ra đốì với người được tặng cho tài sản phải nuôi dưỡng người tặng cho, trong khi người được tặng cho lại sinh sống ở địa phương khác. Do đó, hưống sửa đổi điều kiện tặng cho như sau: “Điều kiện tặng cho không được trái pháp luật, quy tắc xử sự chung, phong tục tập quán và có khả năng thực hiện được”.

Thứ hai: về thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng tặng cho có điều kiện:

Theo quy định Bộ luật dân sự năm 2015 thì “Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện” (khoản 2 Điều 462 Bộ luật dân sự năm 2015). Theo đó, bên được tặng cho thực hiện nghĩa vụ trong điều kiện để được tặng cho, còn bên tặng cho phải thực hiện nghĩa vụ giao tài sản. Hợp đồng tặng cho trong trường hợp này được bảo đảm thực hiện bằng sự ràng buộc nghĩa vụ của các bên. Khi bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không thực hiện nghĩa vụ giao tài sản; pháp luật cho phép bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện là không hợp lý; bởi vì, nếu hợp đồng tặng cho đã được thực hiện, bên tặng cho không có lý do để đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, trong khi hợp đồng vẫn có khả năng tiếp tục thực hiện thì cần buộc bên tặng cho phải tiếp tục thực hiện hợp đồng. Do đó, hướng sửa đổi cho quy định này như sau: “Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì buộc bên tặng cho phải giao tài sản cho bên được tặng cho hoặc phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện”.

Thứ ba: về chấm dứt hợp đồng tặng cho trong trường hợp bên tặng cho chết:

Phần quy định chung về hợp đồng của Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định một trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng dân sự là “Cá nhân giao kết hợp đồng chết” (khoản 4 Điều 422 Bộ luật dân sự năm 2015); theo đó, khi một trong các bên giao kết hợp đồng chết thì đương nhiên hợp đồng chấm dứt việc thực hiện ngoài ý chí của các bên. Bên đã thực hiện nghĩa vụ còn sống có quyền yêu cầu những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bên đã chết thanh toán nghĩa vụ đã được thực hiện. Đối với hợp đồng tặng cho tài sản phải đăng ký quyển sở hữu có thể chấm dứt do bên tặng cho chết, bên được tặng cho đã nhận tài sản, mà thủ tục tặng cho chưa hoàn tất, quyền sở hữu vẫn thuộc vể bên tặng cho; Bộ luật dân sự cũng chưa có quy định để xử lý hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng trong trường hợp này; bản chất của hợp đồng tặng cho trong trường hợp này không khác gì một di chúc, còn vị trí người được tặng cho không khác gì vối người được di tặng và tham khảo việc tặng cho tài sản theo quy định Bộ luật dân sự Pháp và Bộ luật dân sự Nhật Bản khi người tặng cho chết thì hợp đồng tặng cho được coi như di chúc, việc giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng tặng cho trong trường hợp này áp dụng pháp luật về thừa kế. Do đó, hướng bổ sung cho quy định này như sau: “Trong trường hợp tài sản tặng cho phải đăng ký quyền sở hữu, nếu hợp đồng tặng cho đã được giao kết và người được tặng cho đã nhận tài sản, nhưng thủ tục đăng ký quyền sở hữu chưa hoàn tất, tại thời điểm đó người tặng cho chết, thì hợp đồng tặng cho được coi là một di chúc, còn người được tặng cho là người được di tặng; tài sản tặng cho được giải quyết theo pháp luật về thừa kế”.

Thứ tư: Về chấm dứt hợp đồng tặng cho trong trường hợp hợp đồng tặng cho bị hủy bỏ:

Trong phần quy định chung về hợp đồng của Bộ luật dân sự năm 2015, còn quy định một trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng dân sự là “Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện” (khoản 5 Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2015); theo đó, “Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” (khoản 1 Điều 423 Bộ luật dân sự năm 2015). Điểu đó có nghĩa là, nếu các bên không có thỏa thuận thì việc chấm dứt hợp đồng trong trường hợp hủy bỏ hợp đồng chỉ được chấp nhận khi có quy định của pháp luật. Khi các bên có thỏa thuận thì điều kiện hủy bỏ được áp dụng theo thỏa thuận; khi các bên không có thỏa thuận thì áp dụng theo quy định của pháp luật; điều kiện hủy bỏ hợp đồng mà pháp luật quy định là một bên có vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Trong phần quy định một số hợp đồng thông dụng, Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định trường hợp được phép chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng đối với một số hợp đồng cụ thể, nhưng các quy định này không đầy đủ.

Tặng cho tài sản là loại hợp đồng thông dụng, nên tặng cho tài sản cũng có thể chấm dứt trong trường hợp bị hủy bỏ như các loại hợp đồng thông dụng khác, Bộ luật dân sự năm 2015 mới có quy định các trường hợp hủy bỏ đốì với hợp đồng tặng cho có điều kiện tại Điều 462 Bộ luật dân sự năm 2015 nêu trên, mà chưa có quy định về hủy bỏ hợp đồng tặng cho tài sản nói chung.

Vì các đặc điểm khác biệt của hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng thực tế, đơn vụ và không có đền bù, nghĩa vụ giao tài sản của bên tặng cho phát sinh và chấm dứt hợp đồng cùng một thời điểm, nên không thể lấy điều kiện bên tặng cho vi phạm nghĩa vụ làm căn cứ hủy bỏ hợp đồng như các loại hợp đồng khác. Đồng thời, tham khảo việc tặng cho tài sản theo quy định pháp luật một số nước thì điều kiện hợp đồng tặng cho tài sản có thể bị hủy bỏ nếu người được tặng cho “Vô ơn”. Do đó, Bộ luật dân sự huống bổ sung quy định về hủy bỏ hợp đồng tặng cho của Bộ luật dân sự như sau: “Trong trường hợp người được tặng cho xâm phạm đến tính mạng của người tặng cho hay xúc phạm nặng nề đến danh dự, nhân phẩm của người tặng cho thì người tặng cho có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng tặng cho và yêu cầu người được tặng cho phải bồi thường thiệt hại”.