1.Khái niệm hợp đồng bảo đảm là gì ?
Hiện nay, pháp luật dân sự cũng như các văn bản khác không định nghĩa hợp đồng bảo đảm là gì. Tuy nhiên, khái niệm hợp đồng bảo đảm được Chính phủ đề cập đến khoản 5 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP về giao kết giao dịch bảo đảm như sau:
Trong hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh trong giao dịch, các bên không bắt buộc phải thỏa thuận cụ thể về phạm vi của nghĩa vụ bảo đảm và thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
Đặc biệt, tại khoản 5 Điều 3 Nghị định 21 năm 2021 của Chính phủ sẽ có hiệu lực từ ngày 15/5/2021 đã quy định cụ thể định nghĩa loại hợp đồng này.
Hợp đồng bảo đảm có thể là sự thỏa thuận giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm hoặc thỏa thuận giữa bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm và người có nghĩa vụ được bảo đảm.
Đồng thời, hợp đồng bảo đảm gồm các loại hợp đồng sau đây:
- Hợp đồng cầm cố tài sản;
- Hợp đồng thế chấp tài sản;
- Hợp đồng đặt cọc;
- Hợp đồng ký cược, hợp đồng ký quỹ;
- Hợp đồng mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu;
- Hợp đồng bảo lãnh hoặc hợp đồng tín chấp.
Do vậy, vẫn đảm bảo khái niệm về hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự theo Bộ luật Dân sự, hợp đồng bảo đảm là sự thỏa thuận giữa:
- Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm;
- Bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm và người có nghĩa vụ được bảo đảm.
Đặc biệt, cũng tại quy định này, hợp đồng bảo đảm có thể được thể hiện bằng hợp đồng riêng hoặc là điều khoản về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hình thức giao dịch dân sự khác phù hợp.
2.Quy định về hợp đồng bảo đảm
Hợp đồng bảo đảm bao gồm hợp đồng cầm cố tài sản, hợp đồng thế chấp tài sản, hợp đồng đặt cọc, hợp đồng ký cược, hợp đồng ký quỹ, hợp đồng mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu, hợp đồng bảo lãnh hoặc hợp đồng tín chấp;
Hợp đồng bảo đảm có thể là sự thỏa thuận giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm hoặc thỏa thuận giữa bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm và người có nghĩa vụ được bảo đảm;
Hợp đồng bảo đảm có thể được thể hiện bằng hợp đồng riêng hoặc là điều khoản về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hình thức giao dịch dân sự khác phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các biện pháp để bảo đảm thực hiện hợp đồng cũng được gọi là hợp đồng, nên mọi vấn đề liên quan cũng được áp dụng như đối với một hợp đồng. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, đây chỉ là những hợp đồng phụ trong môì quan hệ với hợp đồng chính là hợp đồng phát sinh nghĩa vụ cần bảo đảm, đồng thời không độc lập, mà luôn phụ thuộc vào hợp đồng chính.
Các bên tham gia giao địch bảo đảm hoàn toàn có quyền quyết định về việc đưa các nội dung của biện pháp bảo đảm vào hợp đồng chính hay tách thành một hợp đồng riêng. Nội dung này được xử lý rất khác nhau tùy theo biện pháp và loại tài sản bảo đảm. Nếu như biện pháp bảo đảm là đặt cọc, ký quỹ, ký cược thì thường được ghi nhận ngay trong hợp đồng chính, vì quy định của pháp luật về các biện pháp này tương đốì đơn giản, ngắn gọn. Còn biện pháp bảo đảm là cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, thì thường được tách thành một hợp đồng riêng, nhất là trường hợp phải công chứng, chứng thực hợp đồng bảo đảm. Và khi đó, hợp đồng chính có thể đề cập hoặc không hề đề cập biện pháp bảo đảm (chỉ bắt buộc hợp đồng phụ phải liên kết với hợp đồng chính mà không bắt buộc phải dẫn chiếu ngược lại).
Trường hợp biện pháp bảo đảm được ghi nhận ngay trong hợp đồng chính thì các nội dung về giao dịch bảo đảm thường chỉ cần một điều khoản tương đối ngắn gọn. Trường hợp phải tách thành một hợp đồng riêng, thì các nội dung về giao dịch bảo đảm thường phức tạp, có đầy đủ các thành phần của một hợp đồng và đôi khi nhiều nội dung hơn cả hợp đồng chính.
Nếu cứ quan niệm một cách đơn giản gọi sự thỏa thuận giữa các bên là hợp đồng thì sẽ có phần không hợp lý. Chẳng hạn, sẽ dẫn đến tình trạng hợp đồng chồng chất lên nhau như trong hợp đồng tín dụng lại có thể gồm hợp đồng bảo lãnh cho hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp cho hợp đồng bảo lãnh, hợp đồng ủy quyền để ký hợp đồng thế chấp, hợp đồng định giá tài sản thế chấp, hợp đồng ủy quyền xử lý tài sản thế chấp, hợp đồng lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp hợp đồng thế chấp, hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp, hợp đồng chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng thế chấp, hợp đồng thanh lý hợp đồng thế chấp và các hợp đồng phụ tương tự khác.
Vì vậy, cũng đều gọi là hợp đồng, nhưng hợp đồng bảo đảm có nhiều đặc điểm khác hẳn với các hợp đồng thông thường.
3.Quy định về hiệu lực của hợp đồng bảo đảm
Căn cứ theo Bộ luật dân sự 2015 quy định :
1. Hợp đồng bảo đảm được công chứng, chứng thực theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan hoặc theo yêu cầu thì có hiệu lực từ thời điểm được công chứng, chứng thực.
2. Hợp đồng bảo đảm không thuộc mục 1 (nêu trên) thìcó hiệu lực từ thời điểm do các bên thỏa thuận. Trường hợp không có thỏa thuận thì có hiệu lực từ thời điểm hợp đồng được giao kết.
3. Trường hợp tài sản bảo đảm được rút bớt theo thỏa thuận thì phần nội dung hợp đồng bảo đảm liên quan đến tài sản được rút bớt không còn hiệu lực; tài sản bảo đảm được bổ sung hoặc thay thế thì việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo đảm liên quan đến tài sản này thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan.
4. Biện pháp bảo đảm chưa phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba không làm thay đổi hoặc không làm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng bảo đảm.
4.Vấn đề chung về tên goi hợp đồng
Nghĩa vụ dân sự trong bảo đảm chỉ là một biện pháp gắn liền với một hợp đồng, là một bộ phận, một điều kiện, điều khoản của hợp đồng chính. Do đó, dù giao dịch bảo đảm có đầy đủ các yếu tố của một hợp đồng, nhưng trước đây không được gọi là một hợp đồng, còn hiện nay thì vẫn chỉ được xác định rõ là một hợp đồng phụ.
Văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên ghi nhận cụm từ “hợp đồng thế chấp, cầm cố tài sản” là Thông tư liên ngành số 10/TTLN ngày 25/10/1990. Sau đó, cụm từ hợp đồng cầm cố được đề cập đến trong Quyết định số 185-QĐ/NH5 ngày 06/9/1994.
Bộ luật Dân sự năm 1995 lần đầu tiên mới ghi nhận trong luật cụm từ “hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”, còn chỉ quy định việc cầm cố, thê chấp, bảo lãnh “phải được lập thành văn bản, có thể lập riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính”, mà chưa hề sử dụng các cụm từ “hợp đồng cầm cố”, “hợp đồng thế chấp” và “hợp đồng bảo lãnh”. Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 01/TT-LB năm 1996 đã quy định “hợp đồng thế chấp, hợp đồng cầm cố hoặc hợp đồng bảo lãnh”. Cho đến hai Nghị định số 165/1999/NĐ-CP và 178/1999/NĐ-CP là các văn bản hướng dẫn Bộ luật Dân sự năm 1995 thì lại ghi nhận một loạt cụm từ hợp đồng cầm cô' tài sản, hợp đồng thế chấp tài sản, hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản và gọi chung hợp đồng bảo đảm.
Ngoài ra, Bộ luật Dân sự năm 2005 chính thức ghi nhận trong luật hai biện pháp bảo đảm là hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng thế chấp tài sản. Tiếp theo đó, Luật Thương mại năm 2005 ghi nhận cụm từ “hợp đồng cầm cố”; Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ghi nhận cụm từ “hợp đồng bảo lãnh”.
Đến Nghị định số 163/2006/NĐ-CP thì đã gọi 06 biện pháp cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, đặt cọc, ký cược và ký quỹ đều là hợp đồng. Và đến Nghị định số 21/2021/NĐ- CP thì đã gọi thêm biện pháp tín chấp là hợp đồng. Như vậy, từ chỗ là các văn bản giao dịch bảo đảm, đến nay pháp luật đã thừa nhận 07 giao dịch bảo đảm đều là hợp đồng bảo đảm. Ngoài ra, biện pháp bảo lưu quyền sở hữu phát sinh từ hợp đồng mua bán tài sản và biện pháp cầm giữ phát sinh từ hợp đồng song vụ
5. Khi nào hợp đồng bảo đảm có hiệu lực?
Hiện nay, về hiệu lực của giao dịch bảo đảm, Điều 10 Nghị định 163/2006 quy định, giao dịch bảo đảm được giao kết hợp pháp thì sẽ có hiệu lực kể từ thời gian giao kết trừ các trường hợp sau đây:
- Các bên có thoả thuận khác;
- Cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố;
- Việc thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, tàu bay, tàu biển có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký thế chấp;
- Giao dịch bảo đảm có hiệu lực kể từ thời điểm công chứng hoặc chứng thực khi pháp luật quy định.
Theo quy định, giao dịch bảo đảm sẽ có hiệu lực từ thời điểm ký trừ 04 trường hợp nêu trên. Tuy nhiên, tới đây, khi khái niệm hợp đồng bảo đảm được quy định chi tiết tại Nghị định 21/2021 thì hiệu lực của loại hợp đồng này cũng được Chính phủ quy định như sau:
- Hợp đồng bảo đảm được công chứng, chứng thực: Có hiệu lực từ thời điểm công chứng, chứng thực.
- Hợp đồng bảo đảm không công chứng, chứng thực: Có hiệu lực từ thời điểm các bên thỏa thuận. Nếu không có thỏa thuận thì có hiệu lực từ thời điểm được giao kết.
Trong đó, việc công chứng, chứng thực hợp đồng bảo đảm được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan hoặc theo yêu cầu của các bên.
Đặc biệt, khoản 3 Điều 22 Nghị định này nêu rõ:
Trường hợp tài sản bảo đảm được rút bớt theo thỏa thuận thì phần nội dung hợp đồng bảo đảm liên quan đến tài sản được rút bớt không còn hiệu lực; tài sản bảo đảm được bổ sung hoặc thay thế thì việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo đảm liên quan đến tài sản này thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan.
Theo đó, trong quá trình bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bên bảo đảm có thể rút bớt tài sản nhưng khi đó, chỉ phần rút bớt đó không còn hiệu lực mà những phần khác của hợp đồng vẫn có hiệu lực. Đồng thời, phần hợp đồng bảo đảm liên quan đến tài sản rút bớt đó cũng phải được sửa đổi, bổ sung.
(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)