1. Khái niệm và đặc trưng cơ bản của Hiến pháp
1.1. Khái niệm
Hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về Hiến pháp. Một cách chung nhất, có thể hiểu rằng:
Hiến pháp là hệ thống các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất quy định những vấn đề cơ bản nhất về chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị, chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội, tổ chức quyền lực nhà nước, địa vị pháp lý của con người và công dân.
1.2. Các đặc trưng cơ bản của Hiến pháp
Hiến pháp có những đặc trưng cơ bản sau:
- Thứ nhất, Hiến pháp là luật cơ bản, là "luật mẹ", luật gốc. Nó là nền tảng, là cơ sở để xây dựng và phát triển toàn bộ hệ thống pháp luật quốc gia. Mọi đạo luật và văn bản quy phạm pháp luật khác dù trực tiếp hay gián tiếp đều phải căn cứ vào Hiến pháp để ban hành.
- Thứ hai, Hiến pháp là luật tổ chức, là luật quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, là luật xác định cách thức tổ chức và xác lập các mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp; quy định cấu trúc các đơn vị hành chính lãnh thổ và cách thức tổ chức chính quyền địa phương.
- Thứ ba, Hiến pháp là luật bảo vệ. Các quyền con người và công dân bao giờ cũng là phần quan trọng của Hiến pháp. Do Hiến pháp là luạt cơ bản của nhà nước nên các quy định về quyền con người và công dân trong Hiến pháp là cơ sở pháp lý chủ yếu để nhà nước và xã hội tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền con người và công dân.
- Thứ tư, Hiến pháp là luật có hiệu lực pháp lý tối cao, tất cả các văn bản pháp luật khác không được trái với Hiến pháp. Bất cứ văn bản pháp luật nào trái với Hiến pháp đều phải hủy bỏ.
2. Nhận thức về thi hành và bảo vệ Hiến pháp
Bất cứ quốc gia nào xây dựng nhà nước pháp quyền thì cũng cần phải quan tâm đến vấn đề thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì đó là văn kiện pháp lý đặc biệt quan trọng, có hiệu lực pháp lý cao nhất, quy định những vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất về chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị, chính sách kinh tế, văn hóa - xã hội, tổ chức quyền lực nhà nước và bảo vệ quyền con người, quyền công dân
Theo quy định tại Điều 119 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, mô hình bảo hiến ở nước ta là mô hình bảo hiến phi tập trung nhưng không hề giống mô hình bảo hiến phi tập trung của Hoa Kỳ hay của bất kì quốc gia nào trên thế giới. Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý. Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của nhà nước và toàn thể nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định. Có thể khẳng định rằng mô hình bảo hiến ở nước ta theo Hiến pháp năm 2013 là mô hình bảo hiến khá độc đáo, đây là mô hình tất cả các cơ quan nhà nước và toàn thể nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Tư duy về bảo hiến ở nước ta tuy giản dị nhưng cũng thật sâu sắc vì Hiến pháp của nhà nước cũng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân nên trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp là trách nhiệm của tất cả các cơ quan nhà nước và của tất cả nhân dân.
Nội dung bảo vệ Hiến pháp gồm:
- Giám sát Hiến pháp: là hoạt động giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm kiểm tra tính phù hợp với Hiến pháp của các văn bản do các cơ quan nhà nước đã ban hành. Đối với nhiều quốc gia trên thế giới, đối tượng của hoạt động giám sát Hiến pháp còn là sự phù hợp giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong nước với nội dung của các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên tham gia ký kết hoặc gia nhập.
- Giải thích Hiến pháp: Vì Hiến pháp chứa đựng những nguyên tắc và khung pháp lý rất rộng, trừu tượng, ổn định trong thời gian dài. Do đó, cần thiết phải được giải thích chính thức. Ở nước ta, cơ quan nhà nước được giao thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh là Ủy ban Thường vụ Quốc hội - cơ quan thường trực của Quốc hội. Điều này xuất phát từ thực tiễn hoạt động của Quốc hội là hoạt động không thường xuyên và nếu chờ đến kỳ họp của Quốc hội mới giải quyết thì việc giải thích sẽ không đáp ứng được yêu cầu của việc áp dụng pháp luật. Như vậy, thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh của UBTVQH là hoạt động giải thích chính thức. Thông qua giải thích chính thức, nội dung và ý nghĩa của các quy định trong Hiến pháp được hiểu một cách thống nhất, phù hợp với chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước.
- Giải quyết khiếu kiện vi hiến (bao gồm cả khiếu kiện liên quan đến hành vi vi phạm đến quyền hiến định): đối với những hành vi vi hiến, pháp luật một số nước trên thế giới quy định, quyền khởi kiện trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cơ quan bảo vệ Hiến pháp ra phán quyết về tính hợp hiến hay không hợp hiến của hành vi bị khiếu kiện, buộc cơ quan hoặc cá nhân có liên quan phải thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nào đó nhằm khôi phục lại trật tự hiến định, bảo đảm, bảo vệ quyền và tự do hiến định của công dân.
- Xem xét tính hợp hiến của các cuộc bầu cử và trưng cầu ý dân: Cả bầu cử và trưng cầu ý dân đều là những công việc hệ trọng đối với mỗi quốc gia cho nên ở các nước việc bầu cử, trưng cầu ý dân đều được pháp luật, mà trước hết là Hiến pháp thiết lập thành một nguyên tắc hiến định và được pháp luật quy định chi tiết, cụ thể. Do vậy, hoạt động bảo vệ Hiến pháp cũng bao hàm cả việc giám sát tính hợp hiến của các cuộc bầu cử và trưng cầu ý dân.
3. Trách nhiệm của Nhà nước và mỗi người dân trong việc thi hành và bảo vệ Hiến pháp
3.1. Đối với Nhà nước
- Để bảo đảm hiệu lực thi hành của Hiến pháp, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 64/2013/QH13 ngày 28/11/2013 quy định một số điểm thi hành Hiến pháp, trong đó đã xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trong việc tổ chức thi hành Hiến pháp; kịp thời triển khai các biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp.
- Quốc hội sớm ban hành Luật về tổ chức chính quyền địa phương, Luật Trưng cầu ý dân, các văn bản quy định về Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước …;
- Chính phủ xây dựng và thi hành các chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo các văn bản được ban hành kịp thời sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các văn bản không còn phù hợp với Hiến pháp. Các văn bản được ban hành phải đảm bảo phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013, đảm bảo tính thống nhất, hiệu lực, hiệu quả, khả thi.
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng Hiến pháp tại cơ quan, tổ chức và địa phương, nâng cao nhận thức về Hiến pháp và ý thức chấp hành Hiến pháp của người dân.
- Nâng cao hơn nữa chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước.
- Kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật.
3.2. Đối với mỗi người dân
- Tôn trọng, chấp hành Hiến pháp và pháp luật.
- Tham gia quản lý, giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước.
- Tham gia thực hiện quyền bầu cử, ứng cử theo quy định, lựa chọn người xứng đáng đại diện cho mình tham gia vào bộ máy nhà nước.
- Tham gia góp ý các văn bản pháp luật và các vấn đề khi được Nhà nước tổ chức lấy ý kiến, tham gia khi được tổ chức trưng cầu ý dân.
- Đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, lao động cần cù, sáng tạo góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Mọi vướng mắc chưa rõ hay có yêu cầu hỗ trợ pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số 1900.6162 hoặc có thể gửi thắc mắc qua email: Tư vấn qua email để được giải đáp. Trân trọng!