1. Hợp đồng dịch vụ là gì?

Theo quy định tại Điều 513 Bộ luật dân sự 2015 thì "Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ".

Hợp đồng dịch vụ là một trong các hợp đồng thông dụng được các chủ thể sử dụng để hình thành quan hệ cung ứng dịch vụ giữa bên cung ứng dịch vụ với bên sử dụng dịch vụ. Hợp đồng dịch vụ phải chứa đựng các yếu tố:

- Là sự thỏa thuận giữa bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ: Bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng thống nhất ý chí trong việc lựa chọn đối tượng hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của từng bên chủ thể, giá dịch vụ, tiền dịch vụ cũng như các vấn đề pháp lý khác. Thời điểm giao kết hợp đồng dịch vụ là thời điểm bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ thống nhất về mặt ý chí các vấn đề cơ bản liên quan trực tiếp đến quá trình cung ứng, sử dụng dịch vụ.

Ví dụ: Công ty A kí kết hợp đồng với rạp chiếu phim ANZ để mua 150 vé xem phim cho người lao động của công ty.

- Bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ: Dịch vụ là các công việc được thực hiện chuyên nghiệp, có chuyên môn, có tổ chức ra đời trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Dịch vụ là đối tượng của hợp đồng dịch vụ và bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện công việc này theo sự thỏa thuận với bên sử dụng dịch vụ. Đối với bên sử dụng dịch vụ, khi yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc thì bản chất chính là mua bán thứ hàng hóa vô hình đặc biệt trên thị trường nên chủ thể này phải thanh toán tiền dịch vụ theo giá dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ công bố.

2. Đối tượng của hợp đồng dịch vụ

Điều 514 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

Điều 514. Đối tượng của hợp đồng dịch vụ

Đối tượng của hợp đồng dịch vụ là công việc có thể thực hiện được, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Như vậy, đối tượng của hợp đồng dịch vụ là công việc phải thỏa mãn các điều kiện sau:

- Có thể thực hiện được: Khả năng thực hiện của công việc là bằng hành vi của con người thực hiện công việc đó trong thực tiễn đời sổng. Tuy vậy, khả năng trong thực hiện công việc cũng chỉ mang tính chất tương đối. Nhiều công việc tại một thời điểm nhất định thì không thể thực hiện bằng khả năng của con người. Tuy nhiên, trong tương lai, với sự hỗ trợ của máy móc, trang thiết bị kỹ thuật, con người đã có khả năng thực hiện công việc này như thực hiện công việc đưa hành khách du hành ra ngoài không gian... Các công việc có thể thực hiện được chia thành hai nhóm: nhóm công việc mà đại đa số con người đều có thể thực hiện và nhóm công việc chỉ có một số cá nhân hoặc một số nhóm người thực hiện được. Một công việc nằm ngoài khả năng thực hiện của con người thì không thể trở thành đối tượng của hợp đồng nói chung và hợp đồng dịch vụ nói riêng. Đây cũng là yêu cầu đầu tiên pháp luật đặt ra đối với các công việc mà bên cung ứng dịch vụ thực hiện cho khách hàng.

>> Xem thêm:  Mẫu công văn chuẩn bản cập nhật mới nhất năm 2021

- Không vi phạm điều cấm của luật: Điều 123 Bọ luật dân sự năm 2015 tiếp tục ghi nhận: “Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định". Điều cấm của pháp luật quy định các hành vi của con người không được thực hiện và được luật hóa trong các quy phạm. Dịch vụ thuộc phạm vi điều cấm thực hiện của luật bao gồm: các dịch vụ bị luật hóa danh mục cấm thực hiện như quy định là hành vi phạm tội (mại dâm, môi giới mại dâm...) và các dịch vụ mà người thực hiện không đáp ứng điều kiện cung ứng. Đối với dịch vụ mà người thực hiện không đáp ứng điều kiện cung ứng, pháp luật Việt Nam tương thích với pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới. Từ tính chất, nhu cầu và tác động của dịch vụ tới đời sống xã hội, từ các quốc gia được đánh giá phát triển hàng đầu như Hoa Kỳ, Anh, Đức, Pháp... đến các quốc gia đang trên đà phát triển như Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan... đều đặt ra các yêu cầu nhất định đối với một số dịch vụ để tương thích với nhu cầu, tập quán và truyền thống của quốc gia mình. Pháp luật Việt Nam đặt ra yêu càu nghiêm ngặt về điều kiện cung ứng như dịch vụ y tế, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ pháp lý, dịch vụ karaoke, dịch vụ mát - xa...

- Không trái đạo đức xã hội: Điều 123 Bộ luật dân sự năm 2015 ghi nhận: “đạo đức xã hội là những chuân mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”. Như vậy, đạo đức xã hội là các hành vi ứng xử thỏa mãn hai điều kiện: Một là, được cộng đồng thừa nhận; và hai là, mỗi công dân bằng ý thức chủ quan của mình thực hiện theo các nguyên tắc ứng xử chung đã được cộng đồng dân cư nơi mình sinh sổng thừa nhận.

3. Đơn phương chấm dứt hợp đồng dịch vụ của bên sử dụng dịch vụ

Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự là việc một bên chủ thể đình chỉ thực hiện hợp đồng. Hậu quả pháp lý đối với đơn phương chấm dứt hợp đồng khiển hợp đồng chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng. Phần hợp đồng được thực hiện trước thời điểm nhận được thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng vẫn có hiệu lực với các bên. Bên có lỗi trong việc dẫn đến đơn phương chấm dứt hợp đồng có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại thực tế xảy ra.

Tại khoản 1 Điều 520 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

Trường hợp việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên sử dụng dịch vụ thì bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nhưng phải báo cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý; bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện và bồi thường thiệt hại.

Bên sử dụng dịch vụ phải đáp ứng các điều kiện nhất định thì mới có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ. Việc tiếp tục thực hiện dịch vụ không còn đem lại lợi ích cho bên sử dụng dịch vụ thì chủ thể này phải thông báo về việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Việc báo trước được thực hiện trong một khoảng thời gian hợp lý để bên cung ứng dịch vụ thực hiện các phương án giảm thiểu thiệt hại có thể xảy ra. Đồng thời, bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán tiền dịch vụ tương ứng với phần công việc đã hoàn thành. Đặc biệt, nếu việc đơn phương chấm dứt thực hiện họp đồng gây thiệt hại thì bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Như vậy, cơ sở để bên sử dụng dịch vụ đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ là yếu tố lợi ích thu được từ quá trình thực hiện dịch vụ.

4. Đơn phương chấm dứt hợp đồng của bên cung ứng dịch vụ

Khoản 2 Điều 520 Bộ luật dân sự 2015:

Trường hợp bên sử dụng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên cung ứng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Khác với người sử dụng dịch vụ, bên cung ứng dịch vụ chỉ được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi bên sử dụng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ. Vi phạm nghiêm trọng lạ việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng (khoản 2 Điều 423 Bộ luật dân sự). Trong tình huống này, bên cung ứng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện dịch vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại tương ứng với giá trị bị thiệt hại, mức độ lỗi của bên sử dụng dịch vụ.

5. Tiếp tục thực hiện công việc sau khi hợp đồng dịch vụ hết hạn

Xuất phát từ tính chất của bên cung ứng dịch vụ là một nhà cung ứng chuyên nghiệp, có chuyên môn, thực hiện công việc nhằm mục tiêu thu tiền dịch vụ nên trong một trường hợp đáp ứng các điều kiện nhất định thì pháp luật buộc bên cung ứng dịch vụ phải tiếp tục thực hiện dịch vụ.

Theo Điều 521 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 521. Tiếp tục hợp đồng dịch vụ

Sau khi kết thúc thời hạn thực hiện công việc theo hợp đồng dịch vụ mà công việc chưa hoàn thành và bên cung ứng dịch vụ vẫn tiếp tục thực hiện công việc, bên sử dụng dịch vụ biết nhưng không phản đối thì hợp đồng dịch vụ đương nhiên được tiếp tục thực hiện theo nội dung đã thỏa thuận cho đến khi công việc được hoàn thành.

Như vậy, bên cung ứng dịch vụ phải tiếp thực hiện công việc nếu có các điều kiện sau:

- Thời hạn thực hiện hợp đồng dịch vụ đã hết: Thời hạn thực hiện hợp đồng dịch vụ là khoảng thời gian mà bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ thỏa thuận, ghi nhận trong hợp đồng. Khi hết thời hạn này thì thời gian thực hiện hợp đồng dịch vụ về nguyên tắc cũng chấm dứt.

- Công việc là đối tượng của hợp đồng dịch vụ chưa hoàn thành: Khi hết thời hạn, bên cung ứng dịch vụ chưa hoàn thành công việc là đối tượng của hợp đồng dịch vụ. Việc chưa hoàn thành được thể hiện ở nhiều góc độ như chưa đạt được kết quả theo dự liệu hoặc chưa hoàn thành toàn bộ các bước của công việc.

- Bên sử dụng dịch vụ biết việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không phản đối. Điều kiện này thể hiện việc bên sử dụng dịch vụ đồng ý để bên cung ứng dịch vụ tiếp tục thực hiện công việc là đối tượng của hợp đồng.

Quy định về tiếp tục thực hiện hợp đồng dịch vụ thể hiện rõ yêu cầu của pháp luật đối với bên cung ứng dịch vụ. Với vai trò một nhà cung ứng chuyên nghiệp, khi công việc chưa hoàn thành thì mặc nhiên, chủ thể này phải tiếp tục thực hiện cho đến khi đạt được kết quả hoặc theo tiến trình như dự liệu.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ gì?

Trả lời:

Điều 515 Bộ luật dân sự 2015:

1. Cung cấp cho bên cung ứng dịch vụ thông tin, tài liệu và các phương tiện cần thiết để thực hiện công việc, nếu có thỏa thuận hoặc việc thực hiện công việc đòi hỏi.

2. Trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận.

Câu hỏi: Quyền của bên sử dụng dịch vụ?

Trả lời:

Bên sử dụng dịch vụ có quyền:

 Yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc theo đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và thỏa thuận khác.

Trường hợp bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Câu hỏi: Bên cung ứng dịch vụ có quyền cho người khác thực hiện công việc thay không?

Trả lời:

Điều 517 Bộ luật dân sự 2015:

Không được giao cho người khác thực hiện thay công việc nếu không có sự đồng ý của bên sử dụng dịch vụ.