Trả lời:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2015;

Luật đất đai năm 2013;

Luật công chứng năm 2014;

2. Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo quy định của Luật đất đai năm 2013 có quy định về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cụ thể như sau:

Điều 167. Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất

...

3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thược hiện như sau;

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

Như vậy theo quy định này thì hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực tại các tổ chức hành nghề công chứng, hoặc ủy ban nhân dân cấp xã trừ trường hợp một hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chứng hoạt động kinh doanh bất động sản. Nhưng trên thực tế có những trường hợp các bên không hiểu hết quy định của pháp luật nên các bên mua bán theo tập quán là giao tiền  giao đất và có làm giấy tờ viết tay với nhau. Những trường hợp này trên thực tế sảy ra rất nhiều, nên Bộ luật dân sự năm 2015 cũng có quy định theo hướng mở để đảm bảo quyền lợi của các bên. Cụ thể quy định như sau:

Điêu 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực 

Như vậy nếu trường hợp các bên viết giấy tờ viết tay mà không có công chứng, chứng thực nhưng các bên đã thực hiện được ít nhất hai phần bà nghĩa vụ trong giao dịch thì một trong các bên hoặc các bên có thể yêu cầu tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Nếu có đủ căn cứ chứng minh các bên đã thực hiện được ít nhất hai phần ba nghĩa vụ thì Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này các bên không phải thưc hiện công chứng hoặc chứng thực mà vẫn có hiệu lực pháp luật.

Mọi vướng mắc pháp lý vui lòng liên hệ trực tiếp với đội ngũ luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi: 1900.1975  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ trực tuyến.

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - CÔng ty luật Minh Khuê