Luật sư tư vấn:

Vấn đề Bạn quan tâm, Luật Minh Khuê xin được trao đổi như sau:

 

1. Tác giả đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí

Theo quy định tại Điều 86 Luật Sở hữu trí tuệ, thì tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký sáng chế.

-     Tác giả tạo ra sáng chế bằng công sức và chi phí của mình.

Tác giả là cá nhân bằng lao động sáng tạo của mình đã tạo ra sản phẩm trí tuệ là một giải pháp kỹ thuật đáp ứng các điều kiện của một sáng chế (Điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Văn bản hợp nhất luật sở hữu trí tuệ số 07/VBHN-VPQH năm 2019):

-     Có tính mới;

-     Có trình độ sáng tạo;

-     Có khả năng áp dụng công nghiệp.

Tác giả bằng lao động sáng tạo ra sáng chế bằng công sức, chi phí của mình mà không phải là trường hợp sáng tạo theo nghĩa vụ được chỉ định hoặc sáng tạo thuê hoặc được cấp kinh phí để sáng tạo. Vì vậy, tác giả tạo ra sáng chế tự mình có quyền đăng ký hoặc không đăng ký sáng chế theo ý chí của minh. Tác giả đăng ký sáng chế và sáng chế được công nhận, thì tác giả được cấp bằng sáng chế độc quyền và được bảo hộ trong thời hạn Luật Sở hữu trí tuệ quy định (20 năm).

 

2. Tổ chức, cá nhân đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí

Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện, vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc mà trong thời gian thực hiện nhiệm vụ được giao, mà người thực hiện công việc tạo ra sáng chế, thì quyền đăng ký thuộc về cá nhân, tổ chức giao việc, thuê sáng tạo, cấp kinh phí để sáng tạo.

Tác giả của sáng chế thực hiện công việc sáng chế do tổ chức hoặc cá nhân giao nhiệm vụ hoặc người sáng chế thực hiện việc sáng chế do tổ chức, cá nhân thuê hoặc cấp kinh phí để sáng tạo ra sáng chế, thì khi sáng chế do người này tạo ra, quyền nộp đơn đăng ký thuộc về cá nhân, tổ chức giao việc, thuê, cấp kinh phí sáng tạo.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đa thành phần, thuộc nhiều hình thức sở hữu theo cơ chế thị trường, mọi hỉc lượng sản xuất được giải phóng với mục đích tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội và áp dụng công nghệ, cải tiến công nghệ, tạo ra công ghệ mới. Trong các thành phần kinh tế có nhiều hình thức sở hữu khác nhau, được quyền thuê mướn dân công, sử dụng lao động làm thuê dưới hình thức có kỳ hạn, hợp đồng theo thời vụ hoặc theo công việc. Trong thời hạn thực hiện công việc được giao, người lao động tạo ra kiểu dáng công nghiệp thì quyền đăng ký thuộc về người sử dụng lao động, có trả lương để thực hiện công việc.

Người học nghề là người được người có chuyên môn về kỹ thuật thuộc lĩnh vực cụ thể và người này tạo ra giải pháp kỹ thuật thì quyền nộp đơn thuộc về người sử dụng lao động.

 

3. Trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí

Nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra sáng chế, thì các tổ chức, cá nhân đó đều có quyền đăng ký và quyền đăng ký đó chỉ được thực hiện nếu tất cả các tổ chức, cá nhân đó đồng ý.

Trong trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc cùng đầu tư kinh phí để tạo ra sáng chế thì họ cùng nhau thỏa thuận đăng ký sáng chế, nếu không thỏa thuận được thì việc đăng ký không được thực hiện.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 86 Luật Sở hữu trí tuệ (Được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019), người có quyền đăng ký sáng chế, có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác thông qua hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp đã nộp đơn đăng ký.

Dựa vào căn cứ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế là quyền tài sản, do vậy người có quyền đăng ký sáng chế là tổ chức, cá nhân có quyền chuyển giao quyền đăng ký sáng chế cho tổ chức, cá nhân khác thông qua hợp đồng ủy quyền. Hợp đồng ủy quyền đăng ký sáng chế phải thể hiện dưới hình thức văn bản. Tổ chức, cá nhân được ủy quyền đăng ký sáng chế của người ủy quyền, chỉ được thưc hện các hành vi pháp lý trong phạm vi được ủy quyền là đăng ký sáng chế. Mọi lợi ích do sáng chế mang lại đều thuộc quyền của người ủy quyền đăng ký sáng chế.

Người có quyền đăng ký sáng chế có quyền để lại thừa kế quyền đối với sáng chế do mình sáng tạo ra, theo đó những người thừa kế quyền đối với sáng chế được hưởng các quyền tài sản khi sáng chế được áp dụng vào sản xuất công nghiệp mang lại trong thời hạn sáng chế được bảo hộ hoặc người thừa kế quyền tài sản đối với sáng chế kể cả trong trường hợp thừa kế quyền đối với sáng chế với tư cách quyền của người sử dụng trước sáng chế.

Việc kế thừa quyền tài sản do sáng chế khi áp dụng vào sản xuất mang lại thuộc về những người thừa kế hợp pháp cả người có quyền đăng ký sáng chế.

Theo Thông tư số 13/2010/TT-BKHCN ngày 30 tháng 7 năm 2010 và Thông tư số 18/2011/TT-BKHCN ngay 22 tháng 7 năm 2011   của Bộ Khoa học và Công nghệ (sửa đổi, bổ sung Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14 tháng 02 năm 2007 cua Bộ Khoa học và Công nghệ), theo quy định tại điểm 2, Quy định chủ đơn đăng ký sở hữu công nghiệp là tổ chức, cá nhân (sau đây gọi là “chủ đơn”) là tổ chức, cá nhân nộp đơn đăng ký sáng chế. Khi Bằng bảo hộ sáng chế được cấp, thì chủ đơn sẽ được ghi nhận là chủ Bằng bảo hộ.

Chủ đơn phải đáp ứng các điều kiện về đăng ký sáng chế tại Điều 86 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 7 Nghị định về sở hữu công nghiệp. Nếu không đáp ứng các điều kiện đó, việc đăng ký sở hữu công nghiệp bị coi là không hợp lệ.

Thông tư số 13/2010/TT-BKHCNThông tư số 18/2011/ TT-BKHCN đã viện dẫn, quy định tại điểm 3 về đại diện của chủ đơn:

Chủ đơn có thể tự mình hoặc thông quan đại diện hợp pháp tại Việt Nam tiến hành thủ tục đăng ký sở hữu công nghiệp tại Cục Sở hữu trí tuệ tại điểm 3 và điểm 4 của Thông tư này:

1)   Trường hợp chủ đơn là cá nhân: Người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền của chủ đơn, tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp theo ủy quyền của chủ đơn;

2)   Trường hợp chủ đơn là tổ chức: Người đại diện theo pháp luật của chủ đơn hoặc người thuộc tổ chức được người đại diện theo pháp luật của chủ đơn ủy quyền; tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp theo ủy quyền của chủ đơn; người đứng đầu văn phòng đại diện hoặc đứng đầu chi nhánh tại Việt Nam, nếu chủ đơn là tổ chức nước ngoài.

3)   Đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam (Khoản 2 Điều 89 Luật Sở hữu trí tuệ): Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp theo ủy quyền của chủ đơn.

4.    Các quy định về sở hữu trí tuệ tại Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 14 tháng 01 năm 2019 đối với các trường hợp sau đây:

a)    Đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp có ngày nộp đơn từ ngày 14 tháng 01 năm 2019;

b)    Yêu cầu hủy bỏ hiệu lực Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý được cấp trên cơ sở đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp có ngày nộp đơn từ ngày 14 tháng 01 năm 2019;

c)  Yêu cầu chấm dứt hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được thực hiện từ ngày 14 tháng 01 năm 2019;

d)  Vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được cơ quan có thẩm quyền thụ lý từ ngày 14 tháng 01 năm 2019; yêu cầu khác về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện từ ngày 14 tháng 01 năm 2019.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vự sở hữu trí tuệ bạn có thể sử dụng: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật qua email hay Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi: 1900.6162, hoặc có thể Đặt lịch để gặp luật sư tư vấn trực tiếp tại văn phòng. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng phục vụ bạn./.