1. Hướng dẫn thủ tục khai nhân di sản thừa kế ?

Xin chào luật sư tôi có một vấn đề muốn hỏi luật sư: Đất ở của tôi hiện nay là do vợ chồng tôi cùng mua . Sổ đỏ đứng tên hai vợ chồng tôi và đã được cấp năm 2001. Vợ tôi mất năm 2002. Vợ chồng tôi có hai con, hiện nay tôi muốn chuyển tên trong sổ đỏ sang một mình tôi đứng tên.
Tôi muốn được luật sư cung cấp về mẫu văn bản chia di sản thừa kế. Để sang tên tôi cần làm gì ?
Mong luật sư tư vấn giúp tôi. Xin cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, xác định đây là tài sản chung của vợ chồng bạn. Vợ bạn mất nhưng không để lại di chúc, số tài sản của vợ bạn là 1/2 mảnh đất này, bạn chỉ có quyền sử dụng đối với 1/2 mảnh đất. Để sang tên cho bạn, cần thực hiện văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, được sự xác nhận của hai người con.

Bạn có thể tham khảo mẫu văn bản như sau:

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

VĂN BẢN PHÂN CHIA TÀI SẢN THỪA KẾ

Chúng tôi gồm có:

........................................................................................

........................................................................................

.........................................................................................

........................................................................................

.........................................................................................

Chúng tôi là những người thừa kế theo ... (5) của ông/bà ... chết ngày ........../.........../... theo Giấy chứng tử số ... do Uỷ ban nhân dân ... cấp ngày ........../........../ ... Chúng tôi thoả thuận về việc phân chia tài sản thừa kế của ông/bà ... để lại như sau (7):

........................................................................................

........................................................................................

.........................................................................................

Chúng tôi xin cam đoan:

- Những thông tin đã ghi trong Văn bản phân chia tài sản thừa kế này là đúng sự thật;

- Ngoài chúng tôi ra, ông/bà ... không còn người thừa kế nào khác;

- Văn bản phân chia tài sản thừa kế này do chúng tôi tự nguyện lập và việc phân chia tài sản thừa kế nêu trên không nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

Những người thừa kế

(Ký và ghi rõ họ tên)

LỜI CHỨNG CỦA CHỦ TỊCH/PHÓ CHỦ TỊCH

UỶ BAN NHÂN DÂN XÃ/PHƯỜNG/THỊ TRẤN .....................

Ngày.........tháng...........năm......... (bằng chữ ......................)

tại ... (9), tôi ..., Chủ tịch/Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã/phường/thị trấn ... huyện/quận/thị/xã/thành phố thuộc tỉnh ... tỉnh/thành phố ...

CHỨNG THỰC:

- Văn bản phân chia tài sản thừa kế này được lập giữa ông/bà ...

........................................................................................................

và ông/bà ... ; những người thừa kế đã tự nguyện thoả thuận phân chia tài sản thừa kế;

- Tại thời điểm chứng thực, những người thừa kế đều có năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy định của pháp luật;

- Sau khi thực hiện niêm yết nội dung phân chia tài sản thừa kế tại ...

...........................................................................................................

từ ngày .........tháng.........năm .......... đến ngày ....... tháng .........năm........., Uỷ ban nhân dân không nhận được khiếu nại tố cáo nào;

- Nội dung Văn bản phân chia tài sản thừa kế không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

- ...........................................................................................................

......................................................................................................(11)

- Văn bản phân chia tài sản thừa kế này được lập thành .......... bản chính (mỗi bản chính gồm ....... tờ, ........trang), giao cho:

+ ................................ bản chính;

+ ................................ bản chính;

Lưu tại Uỷ ban nhân dân một bản chính.

Số................................, quyển số ................TP/CC-SCT/HĐGD.

CHỦ TỊCH/PHÓ CHỦ TỊCH

(Ký, đóng dấu và ghi rõ họ tên)

>> Tham khảo bài viết liên quan: Phân biệt văn bản khai nhận di sản và văn bản thỏa thuận phân chia di sản ?Tư vấn lập di chúc, từ chối, khai nhận, thỏa thuận chia di tài sản thừa kế

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Tư vấn trường hợp giả danh em trai từ chối nhận di sản thừa kế ?

Xin chào luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi mong luật sư giúp đỡ. Vấn đề của tôi liên quan đến việc phân chia di sản thừa kế giữa anh em tôi. Bố tôi có 2 người con, tôi và anh T, anh T là anh em cùng cha khác mẹ với tôi. Thời điểm tháng 5/2015 bố tôi mất có để lại di sản thừa kế là mảnh đất mang tên ông.

Mẹ tôi và mẹ anh T đều đã mất. Tôi hiện tại vào nam công tác, sau khi bố mất anh tôi ra văn phòng công chứng làm giả tờ khai từ chối nhận di sản thừa kế, ký tên tôi và ký sai tên tên đệm của tôi nữa. Đến nay anh tôi đã sang tên sổ đỏ cho mình và bán cho người khác bằng hợp đồng mua bán đang công chứng tại văn phòng công chứng. Tuy nhiên vì lý do nào đó, anh tôi đã công chứng được hợp đồng mua bán trước thời hạn.

Vậy xin hỏi việc khai nhận di sản thừa kế của anh tôi có vô hiệu được không, tôi có đòi quyền lợi cuả mình được không ?

Xin luật sư giúp đỡ. Xin trân trọng cảm ơn.

- Tịnh

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự miễn phí gọi:1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Luật dân sự 2005:

“Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.” Di sản thừa kế có thể là hiện vật, tiền, giấy tờ trị giá được thành tiền, quyền tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản.Việc xác định di sản thừa kế mà người chết để lại căn cứ vào giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp đối với khối tài sản đó. Đối với trường hợp di sản thừa kế là tài sản thuộc sở hữu chung thì việc xác định tài sản chung của người để lại di sản có thể dựa trên những thỏa thuận đã có từ trước hoặc căn cứ vào văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành."

Thứ nhất: Theo quy định tại Luật công chứng 2014.

Điều 53. Phạm vi áp dụng :

Thủ tục công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản, hợp đồng uỷ quyền, di chúc, văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản, văn bản từ chối nhận di sản được thực hiện theo quy định của Mục này và các quy định của Mục 1 Chương này mà không trái với quy định của Mục này.

Điều 59. Công chứng văn bản từ chối nhận di sản

Người thừa kế có thể yêu cầu công chứng văn bản từ chối nhận di sản. Khi yêu cầu công chứng văn bản từ chối nhận di sản, người yêu cầu công chứng phải xuất trình bản sao di chúc trong trường hợp thừa kế theo di chúc hoặc giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người yêu cầu công chứng theo pháp luật về thừa kế; giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng minh người để lại di sản đã chết.

Điều 52. Người có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

Công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật.

Luật công chứng cũng quy định về các hành vi bị nghiêm cấm khi công chứng như sau:

"Điều 7. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Nghiêm cấm công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng thực hiện các hành vi sau đây:

a) Tiết lộ thông tin về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; sử dụng thông tin về nội dung công chứng để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức;

b) Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch, nội dung bản dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; xúi giục, tạo điều kiện cho người tham gia hợp đồng, giao dịch thực hiện giao dịch giả tạo hoặc hành vi gian dối khác;

d) Từ chối yêu cầu công chứng mà không có lý do chính đáng; sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng;"

Thứ 2: Trình tự thực hiện:

- Người yêu cầu công chứng văn bản từ chối nhận di sản thừa kế phải tự mình nộp hồ sơ yêu cầu công chứng, không uỷ quyền cho người khác.

- Công chứng viên tiếp nhận hồ sơ và kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ, nếu thấy hồ sơ đầy đủ, phù hợp với qui định của pháp luật thì thụ lý, ghi vào sổ công chứng. Viết phiếu hẹn thời gian công chứng.

- Nếu thấy có sự nghi nhờ về năng lực hành vi dân sự, có dấu hiệu đe doạ, cưỡng ép thì Công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị người yêu cầu, Công chứng viên tiến hành xác minh, không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng.

- Công chứng viên kiểm tra lại văn bản từ chối nhận di sản, người yêu cầu công chứng tự đọc lại dự thảo văn bản, đồng ý thì ký vào từng trang văn bản.

- Công chứng viên ghi lời chứng, ký vào từng trang văn bản, người yêu cầu nộp phí công chứng, tổ chức hành nghề công chứng đóng dấu công chứng.

-> Như vậy hiện nay anh có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu nếu như anh cung cấp được những giấy tờ hợp pháp cho yêu cầu của mình có căn cứ và hợp pháp.

Bộ luật tố tụng dân sự số 75/2011/ QH12 Sửa đổi của Quốc hội:

Điều 339c. Quyết định tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

1. Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

2. Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, trong quyết định này Tòa án phải quyết định về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

-> Hậu quả của việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu theo quy định của luật, theo đó bạn sẽ có căn cứ để xác định được quyền lợi của mình.

Theo đó anh trai bạn sẽ không phải chủ sở hữu trên GCNQSDĐ, những giao dịch liên quan kéo theo sẽ vô hiệu.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài luật sư tư vấn: 1900.6162 . Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Con gái có được hưởng di sản thừa kế mà cha mẹ để lại ?

Chào luật sư. Em có 1 số vấn đề khúc mắc về vấn đề đất đai cần sự tư vấn của luật sư. Em viết có thể không gẫy gọn, mong luật sư cố gắng đọc, trả lời giúp em. Gia đình em có 1 miếng đất ở LB- HN. Đất này từ đời Cụ em đã sinh sống ở đây. Sau đó đến ông nội em và em trai của ông nội (em gọi là ông trẻ) sống.
Khi ông trẻ lấy vợ thì các Cụ có mua đất khác cho ông trẻ ra ở riêng, còn miếng đất đó ông bà nội em ở, Ông bà nội có 2 người con là bố và cô của em. Ông nội mất sớm, bố em đến tuổi trưởng thành thì đi bộ đội, sau đó đi làm ở xa và thi thoảng mới về nhà. Ở nhà chỉ có bà và cô sinh sống. Sau khi bà nội em mất (1980) thì không để lại di chúc chia miếng đất như thế nào. Cô em ở lại miếng đất đó, còn bố em đi lập nghiệp ở trong nam. Hàng năm bố vẫn gửi tiền về đóng thuế đất. Đến năm 2010 bố em về giải quyết, làm lại sổ đất thì xảy ra 1 vấn đề là Cô A là con của ông trẻ của em viết đơn kiện lên địa chính, đòi chia phần tài sản trong miếng đất nói trên.
Vậy em xin hỏi luật sư tư vấn giùm, trường hợp của gia đình em nếu giải quyết theo luật thì như thế nào? Cô trẻ của em có được quyền thừa hưởng trong miếng đất đó không? Nếu có thì chia như thế nào? Nếu không thì miếng đất đó, bố và cô ruột của em chia như thế nào?
Em xin cảm ơn, mong sớm nhận được trả lời của luật sư. Nếu còn chỗ nào chưa rõ mong luật sư cứ hỏi để em bổ sung thông tin.

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Căn cứ vào Điều 645 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện như sau:

"Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế."

- Ngay khi cụ của bạn mất mà không để lại di chúc là thời điểm mở thừa kế, theo như bạn trình bày thì bà nội của bạn mất năm 1980 như vậy cụ của bạn đã mất trước đó một thời gian, theo thời hiệu ở điều luật trên thì thời hiệu khởi kiện là 10 năm nên cô trẻ của bạn không được quyền khởi kiện chia di sản thừa kế vì đã hết thời hiệu khởi kiện.

- Khi bà của bạn mất không để lại di chúc, thời điểm mở thừa kế vào năm 1980, đến năm 2010 thì đã là 30 hết thời hiệu khởi kiện nên cô ruột của bạn cũng không có quyền yêu cầu toà án chia di sản thừa kế.

Tuy nhiên, nếu như di sản này chưa chia, những người đồng thừa kế thừa nhận đây là tài sản chung, bạn có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản chung dành cho những người đồng thừa kế theo quy định tại điểm 2.4, khoản 2, mục I của Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình:

"2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Cha có được hưởng di sản thừa kế của con gái không ?

Thưa Luật sư! Dì của tôi đã ly dị với chồng cách đây 20 năm một cách hợp pháp (tòa án đã giải quyết) và có 1 người con gái hiện giờ đã 23 tuổi. Sau ly dị, người mẹ chịu trách nhiệm nuôi dưỡng người con và không cần sự hỗ trợ của người chồng cũ. Dì tôi đã lập gia đình mới và có thêm một người con gái (cùng mẹ khác cha với bé gái đầu tiên).
Hiện nay, người con gái đã mất do tai nạn giao thông trên đường đi làm và được bồi thường tai nạn nghề nghiệp từ phía Công ty và tài xế xe. Người cha của bé gái (chồng cũ của dì tôi) muốn chia 50% số tiền bồi thường với danh nghĩa là Cha ruột của đứa bé. Theo Luật Sư, trường hợp này nên giải quyết như thế nào là đúng pháp luật?
Xin trân thành cảm ơn, Luật sư!

Tư vấn thủ tục nhận di sản thừa kế đối với quyền sử dụng đất ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về thừa kế: 1900.6162

Trả lời:

Số tiền được bồi thường từ phía Công ty và tài xế xe sẽ là di sản của cô gái con dì bạn theo quy định tại điều 634 Bộ luật dân sự 2005 (Bộ luật dân sự năm 2015):

Điều 634. Di sản

Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

Căn cứ vào những điều bạn đã trình bày thì con gái của Dì bạn chết vì tai nạn giao thông nên chắc không có di chúc. Cho nên căn cứ vào điểm a, khoản 1, điều 675 Bộ luật dân sự 2005 thì di sản mà cô gái để lại sẽ được chia thừa kế theo pháp luật.

Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

Đối với thừa kế theo pháp luật thì di sản mà người chết để lại sẽ chia cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất đầu tiên, trong đó hàng thừa kế thứ nhất gồm những người:

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

Như bạn đã trình bày, thì cô gái bị tai nạn không có con ( đẻ hoặc nuôi) và chồng nên số tiền này sẽ chia cho những người sau: mẹ của cô gái đó ( tức dì của bạn), người cha đẻ ra cô gái ( tức chồng cũ của dì bạn) - mặc dù đã ly hôn với dì của bạn và cũng không hỗ trợ nuôi cô gái ( do dì bạn từ chối) nhưng trên pháp luật, cụ thể tại giấy khai sinh của cô gái thì người đó vẫn là cha của cô gái. Ngoài ra cũng có thể là người chồng hiện tại của Dì bạn cũng được hưởng thừa kế nếu trước đó người này có làm thủ tục nhận nuôi cô gái và được hưởng thừa kế với tư cách là cha nuôi. Và di sản này sẽ chia trung bình cho số người được hưởng thừa kế

Vậy, trong trường hợp người chồng hiện tại của dì bạn không phải cha nuôi trên pháp luật của cô gái tai nạn thì sô tiền bồi thường do Công ty và tài xế xe bồi thường sẽ chia đôi, tức dì bạn và người cha đẻ của cô gái mỗi người 50%. Trong trường hợp người chồng hiện tại của dì bạn là cha nuôi trên pháp luật của cô gái thì dì bạn, cha đẻ của cô gái và người chồng hiện tại của dì bạn mỗi người được hưởng số tiền bồi thường thiệt hại/3.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài luật sư tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Thủ tục nhận di sản thừa kế đối với quyền sử dụng đất ?

Thưa luật sư, Mẹ tôi có 1 căn nhà khi già yếu bà ủy quyền cho tôi đứng tên để mua hóa giá nhà với nhà nước, hiện tôi đang đứng chủ quyền của căn nhà nói trên. Gia đình tôi có 4 chị em ruột, vẫn đang sinh sống tại chổ, bản thân của tôi thì không chồng không con. Nay tôi muốn làm di chúc cho 3 người cháu ruột của tôi. Cũng xin nói rõ là tôi cũng có thêm 1 người em trai cùng cha khác mẹ, nhưng vì trốn quân dịch nên nó đã làm giấy tờ chuyển sang thành con trai của mẹ tôi (có nghĩa là nó đứng cùng 1 họ với bà) .
Vậy trên pháp lý thì người con trai này có được quyền thừa hưởng di sản căn nhà này do mẹ ruột và 4 chị em tôi tạo dựng hay không? (bởi vì nó chỉ là con trai của bà vợ nhỏ với ba tôi, nhưng trên giấy tờ pháp lý thì nó lại chính là con trai ruột của mẹ tôi với ba tôi ). Vậy việc thực hiện di chúc của tôi có hợp lệ hay không? Còn nếu không hợp lệ thì tôi có thể làm lại tờ di chúc khác do 4 chị em đồng ký để trao phần tài sản được hưởng của riêng 4 chị em tôi trong ngôi nhà nay cho những người con cháu ruột của chúng tôi được hay không? Bởi vì chúng tôi đã hơn 70 tuổi nhưng đầu óc vẫn còn rất minh mẫn ?
Kính mong luật sư tư vấn giúp đỡ cho chúng tôi. Chúng tôi hy vọng sớm nhận được thư hồi âm của quý luật sư. Xin cám ơn !

Luật sư phân tích:

Theo quy định của Điều 648 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội thì:

"Điều 648. Quyền của người lập di chúc

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản."

Như vậy, bạn hoàn toàn có quyền để lại di chúc định đoạt tài sản cho bất kỳ ai mà bạn muốn định đoạt, và có thể truất quyền hưởng di sản thừa kế của người thuộc đối tượng được thừa kế. Trừ quy định tại Điều 669 Bộ luật dân sự như sau:

"Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động."

Như vậy, người em của bạn không thuộc đối tượng nêu trên, vì vậy, trong di chúc của bạn hoàn toàn có thể truất quyền thừa kế của người này mà không vi phạm pháp luật dân sự về thừa kế.

Xin chào luật sư, Tôi xin nhờ luật sư tư vấn giùm một việc sau: Gia đình tôi có một GCNQSDĐ đứng tên bố tôi. Nay bố tôi đã mất, còn mẹ tôi bị bệnh tai biến đã 7 năm . Khi còn khỏe bố mẹ tôi đã lập di chúc cho tôi và hiện tôi vẫn đang ở cùng mẹ tôi. Nhưng vừa qua mẹ tôi đã tự ý bán một phần trong tổng diện tích đất với hình thức viết giấy tay mà không thông qua tôi cũng như tất cả các con của cha mẹ tôi( Cha mẹ tôi có tôi là con trai và 4 chị em gái) .Xin hỏi luật sư tư vấn giùm như vậy có đúng với luật mua bán đất đai không? Tôi xin cảm ơn.

=> Trong trường hợp của bạn, sau khi bố bạn mất, nếu di chúc của bố bạn lập là đúng quy định của pháp luật thì bạn được quyền thực hiện thủ tục khai nhận di sản và sử dụng phần đất đó. Tuy nhiên, cần phải xem xét tính chất pháp lý của GCNQSDĐ này, nếu quyền sử dụng đất trên hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì dù chỉ có bố bạn đứng tên, nhưng mẹ bạn vẫn có quyền sử dụng đối với một nửa của diện tích đất này và có thể chuyển nhượng sang cho người khác nhưng phải thực hiện thủ tục tách thửa, sang tên trước khi chuyển nhượng. Còn nếu như quyền sử dụng mảnh đât là tài sản riêng của bố bạn thì việc mẹ bạn tự ý bán một phần phần đất trên là không đúng quy định của pháp luật. Hơn nữa, theo quy định của pháp luật dân sự thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đụng đất chỉ có hiệu lực pháp luật khi được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. Giấy tờ viết tay của mẹ bạn là không có hiệu lực pháp luật. Theo đó, bạn có quyền khởi kiện lên Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự trên là vô hiệu, từ đó, 02 bên có trách nhiệm hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Chào luật sư, Luật sư cho tôi hỏi bố mẹ tôi có mua một lô đất nhưng đều đứng tên bố tôi. Và khi ông mất không lập di chúc hưởng thừa kế, vậy luật sư cho tôi hỏi lô đất bố tôi đứng tên có thể chuyển qua cho mẹ tôi đứng tên không? Hiện tại bố mẹ tôi có 3 người con, bà nội vẫn còn sống. Hau Mai

=> Nếu bố bạn mất không để lại di chúc thì theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhât bao gồm: ba người con của bố bạn, bà nội bạn, và mẹ bạn mỗi người hưởng một phần bằng nhau. Nếu muốn chuyển tên quyền sử dụng đất sang cho mẹ bạn thì cần phải có văn bản từ chối nhận di sản của những người còn lại, và nội dung trong văn bản khai nhận di sản do mẹ bạn thực hiện và có ký tên của những người khác. Hơn nữa, thủ tục khai nhận di sản phải được thực hiện tại tổ chức công chứng có thẩm quyền.

Thưa luật sư, Em xin trình bày luôn sự việc..Quyền sử dụng đất là đứng tên Bố và Mẹ em nay bố em đã mất mà ko để lại di chúc cho Mẹ và chúng em..hiện tại bà nội em vẫn sống nên quyền thừa kế thuộc về bà nội e 1 phần..Vài tháng trước bà nội em đã lập VI Bằng cho tặng phần tài sản thừa kế lại cho mẹ em...Nay mẹ con em muốn sang tên tài sản sang tên 1 mình mẹ em sở hữu..nhưng bà cụ đã chuyển đến ở với các cô con gái của cụ và 1 trong số các cô hiểu được vấn đề về quyền lợi nên đã ngăn cản bà cụ bằng mọi cách để gia đình e gặp khó khăn trong việc sang tên sổ đỏ theo đúng quy định của pháp luật..Trong khi đó dia đình e rất cần sang tên để thế chấp ngân hàng lấy vốn đầu tư kinh doanh..Nay e hỏi với tấm Vi Bằng mà bà cụ đã cho tặng mẹ e trước kia liệu với những lời xúi giục từ những bà cô thì bà cụ có quyền hủy Vi Bằng đã cho tặng rồi không..Và với trường hợp bằng mọi giá gia đình em fai sang tên sổ để thế chấp Ngân Hàng thì fai làm thế nào ạh.. Việc gia đình e rất gấp vì liên quan đến sự sống còn của cả gia đình mong luat sư tư vấn và giúp đỡ ạh..!

=> Theo quy định của pháp luật, đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất phải được công chứng theo quy định của pháp luật thì mới phát sinh hiệu lực. Việc bà bạn lập vi bằng tặng cho mẹ bạn quyền sử dụng đất trên chỉ mang tính chất tạm thời, có sự làm chứng của Tổ chức Thừa phát lại. Hơn nữa, pháp luật dân sự quy định đối với quyền sử dụng đất thì kể từ ngày mẹ bạn được cấp GCNQSDĐ thì mẹ bạn mới phát sinh quyền sử dụng, chiếm hữu đối với phần đất này. Vì vậy, bà bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu hủy vi bằng này.

Trân trọng ./.

Bộ phận Tư vấn Luật Thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?