Ông ấy trước đây có ký hợp đồng lao động với giám đốc cũ (đã được chuyển công tác) với chức danh là kế toán trưởng, sau đó được bổ nhiệm vị trí giám đốc và trở thành thành viên của hội đồng quản trị công ty, là người đại diện theo pháp luật của công ty. Khi được bổ nhiệm thì chỉ có quyết định bổ nhiệm của hội đồng quản trị. Vậy công ty tôi có thể làm thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động giữa giám đốc và hội đồng quản trị để giải quyết chế độ thôi việc hay không? (Người hỏi: Đặng Hoàng Anh)

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật lao động của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn trả trợ cấp thôi việc theo luật lao động, gọi:   1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau

1. Cơ sở pháp lý: 

Luật doanh nghiệp 2014

Nghị định 05/2015/NĐ-CP Hướng dẫn bộ luật lao động.

2. Luật sư tư vấn:

Vấn đề của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Như bạn trình bày: Giám đốc công ty bạn được tổng công ty điều động qua đơn vị thành viên mới. Công ty của bạn là công ty cổ phần , có 51 % vốn nhà nước. Giám đốc trước kia vào công ty với vai trò kế toán trưởng đã giám đốc cũ tuyển dụng. Sau đó được bổ nhiệm làm chức giám đốc. Vấn đề của công ty bạn được pháp luật quy định như sau:

Thứ nhất là về vấn đề chủ thể đứng ra đại diện công ty để thỏa thuận chấm dứt hợp đồng với giám đốc.

Căn cứ điểm I, Khoản 2, Điều 149 Luật doanh nghiệp 2014 quy định  Hội đồng quản trị có quyền chấm dứt hợp đồng đối với giám đốc. Như vậy chủ tịch hội đồng quản trị sẽ đứng ra thay mặt Hội đồng quản trị thực hiện việc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc công ty bạn.

Thứ hai là về trợ cấp thôi việc cho giám đốc.

Căn cứ điều 48 Bộ luật lao động 2012 quy định: Công ty có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho giám đốc đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.( Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.). Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.( Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật; )

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc – Căn cứ 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP Hướng dẫn bộ luật lao động.

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động. Kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh hoặc kinh phí hoạt động của người sử dụng lao động – Căn cứ 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP Hướng dẫn bộ luật lao động.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê .Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số:  1900.6162  để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê.