1. Khái quát về Tòa án quốc tế về Luật biển

- Cơ sở ra đời của ITLOS: Ngày 01/08/1996, Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) chính thức ra đời, có trụ sở chính tại thành phố Hamburg (Cộng Hòa Liên Bang Đức) theo quy định của Phụ lục VI về Quy chế của Tòa án Quốc tế về Luật biển và Công ước quốc tế về Luật biển 1982 của Liên Hợp Quốc Đây là thiết chế tài phán được hình thành trong khuôn khổ của các điều ước chuyên môn. Công ước quốc tế về luật biển 1982 là cơ sở pháp lý cơ bản đánh dấu sự ra đời của Toà ITLOS (Điều 287 ghi nhận sự hình thành). 

- Chức năng của Tòa ITLOS: 

+ Chức năng giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực luật biển bằng trình tự, thủ tục tư pháp phù hợp với quy định trong Công ước quốc tế về Luật biển 1982, bao gồm: (1) Tranh chấp giữa các quốc gia thành viên của công ước, liên quan đến việc giải thích và áp dụng các quy định của công ước. (2)Tranh chấp giữa các cá nhân, tổ chức không phải là thành viên của công ước, liên quan đến việc thăm dò và khai thác đáy biển. (3)Tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng các thỏa thuận quốc tế khác.

+ Chức năng đưa ra kết luận tư vấn, cụ thể: (1) Theo yêu cầu của cơ quan quyền lực đáy đại dương thông qua cơ quan chính của nó là Hội đồng và Đại hội đồng của cơ quan đáy đại dương. (2)Theo yêu cầu của các quốc gia, cơ quan có thẩm quyền.

- Thẩm quyền của Tòa ITLOS

+ Tòa ITLOS cũng có những đặc điểm chung về thẩm quyền giống với các Tòa án Quốc tế khác. Tòa không có thẩm quyền đương nhiên mà chỉ có thẩm quyền phái sinh, bởi thẩm quyền của Tòa được phát sinh từ những yêu cầu, hành động của các quốc gia, các tổ chức quốc tế nhằm bảo vệ quyền lợi cho mình. Tòa ITLOS có 02 thẩm quyền chính:

Một là, thẩm quyền giải quyết tranh chấp, bao gồm: (1)Tranh chấp giữa các quốc gia là thành viên công ước, các bên phải cùng tuyên bố lựa chọn Tòa này và tranh chấp đó phải là tranh chấp pháp lý trong lĩnh vực luật biển. (2) Tranh chấp giữa các cá nhân, tổ chức và quốc gia, pháp nhân khai thác đáy đại dương, liên quan đến giải thích hay áp dụng phần XI UNCLOS và các Phụ lục 3,4.

Hai là, thẩm quyền tư vấn giải quyết tranh chấp đáy biển khi được Đại hội đồng hoặc Hội đồng thuộc cơ quan quyền lực đáy đại dương có quyền yêu cầu tư vấn. Ngoài ra, Tòa ITLOS có các thẩm quyền phái sinh như: thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và thẩm quyền liên quan đến thả tàu nhanh.

Tuy nhiên, việc xác định thẩm quyền của Tòa không thể máy móc mà cần xét tới bản chất của tranh chấp. Đối với vụ việc tàu quân sự và các sĩ quan hải quân của Ukraine bị Nga bắt giữ, về bản chất có thể thuộc thẩm quyền thả tàu nhanh nhưng lại áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Phía Ucraina đã yêu cầu Tòa ITLOS áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo nhân quyền cho các thủy thủ bị bắt và bảo toàn các bí mật quân sự trên tàu.

- Cơ cấu tổ chức của Tòa: Khác với Tòa án quốc tế Liên Hợp Quốc, cơ cấu thành viên của Tòa ITLOS do các thành viên UNCLOS quyết định với thành phần 21 thẩm phán. Việc xét xử của Tòa có thể tuân theo trình tự đầy đủ hoặc trình tự rút gọn thông qua Tòa trọng tài. Về cơ cấu Tòa, Điều 14 Phụ lục VI Công ước có quy định về việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển gồm 11 trong số các thẩm phán của Tòa. Viện này có thẩm quyền bắt buộc đối với các tranh chấp liên quan đến hoạt động ở vùng đáy biển quốc tế quy định tại điều 35, Mục IV, phụ lục VI và Mục 5 Phần XI. Đại hội đồng của cơ quan quyền lực có quyền định ra các khuyến nghị chung về sự đại diện và phân bổ đảm bảo nguyên tắc công bằng về địa lý và tính chất đại diện cho các nền pháp luật chủ yếu trên thế giới.

2. Tòa trọng tài quốc tế theo phụ lục VII UNCLOS

2.1 Khái quát chung về Tòa trọng tài quốc tế theo phục lục VII UNCLOS

- Cơ sở ra đời của tòa: Phần XV, Mục I của UNCLOS 1982 quy định Tòa trọng tài Quốc tế theo phụ lục VII được sử dụng để giải quyết tranh chấp trong trường hợp các bên tranh chấp đã tìm kiếm giải pháp và đã tiến hành trao đổi quan điểm về GQTC, thương lượng hay bằng các biện pháp hòa bình khác nhưng thất bại, tranh chấp không được giải quyết.

- Chức năng của tòa: Điều 4, phụ lục VII UNCLOS quy định chức năng của Tòa: “Một tòa trọng tài được thành lập theo điều 3 của Phụ lục này thi hành các chức năng của mình theo đúng phụ lục này và các quy định của công ước.” Xuất phát từ việc Tòa là thiết chế tài phán được hình thành trong khuôn khổ của công ước nên có thể xác định chức năng của Tòa trọng tài theo Phụ lục VII là giải quyết tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng UNCLOS trong thực tiễn.

2.2. Thẩm quyền và cơ sở tạo nên thẩm quyền 

Tòa trọng tài là cơ quan tài phán quốc tế được các quốc gia và các chủ thể khác của Luật quốc tế thỏa thuận thành lập trên cơ sở điều ước quốc tế (hoặc điều khoản) về trọng tài nhằm giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên. Do vậy, tòa này không có thẩm quyền đương nhiên trong giải quyết tranh chấp. Tòa trọng tài theo Phụ lục VII có thẩm quyền GQTC giữa các thành viên của UNCLOS liên quan đến việc giải thích và áp dụng công ước. Theo đó, UNCLOS sẽ đóng vai trò là nền tảng, khuôn khổ pháp lý bởi Tòa sẽ áp dụng toàn bộ những điều khoản được quy định trong công ước, đặc biệt là tại chương XV UNCLOS để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia liên quan.

- Cơ sở tạo nên thẩm quyền: 

+ Các bên trong tranh chấp là thành viên của Công ước Luật biển 1982. Đối với các bên không là thành viên của UNCLOS nhưng nếu các bên thống nhất tuyên bố lựa chọn đưa tranh chấp ra Tòa trọng tài Phụ lục VII giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Tòa thì Tòa trọng tài Phụ lục VII vẫn có thẩm quyền giải quyết.

+ Giữa các bên tồn tại tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng UNCLOS (thuộc lĩnh vực Luật Biển). Một số tranh chấp có thể kể đến như: tranh chấp phân định các vùng biển, hàng hải; tranh chấp liên quan đến việc thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán,..

 + Các bên trong tranh chấp đã tiến hành đã tiến hành trao đổi quan điểm theo điều 283 UNCLOS về cách thức giải quyết tranh chấp nhưng thất bại. Cụ thể, khoản 1 Điều 283 UNCLOS quy định nghĩa vụ “khi có tranh chấp xảy ra giữa các quốc gia thành viên liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước, các bên tranh chấp tiến hành ngay một cuộc trao đổi quan điểm về cách giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hay bằng các phương pháp hòa bình khác”.

+ Các bên lựa chọn thủ tục theo Điều 287 UNCLOS. Khoản 3 quy định: “Một quốc gia thành viên tham gia tranh chấp mà không được một tuyên bố còn hiệu lực bảo vệ thì được xem là đã chấp nhận thủ tục trọng tài đã trù định ở Phụ lục VII”. Theo đó, trường hợp các bên trong tranh chấp là thành viên của UNCLOS mà không đưa ra một tuyên bố lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp nào thì mặc nhiên họ đã chấp nhận thẩm quyền của Tòa trọng tài theo Phụ lục VII. Khoản 4 quy định: “Nếu các bên đã chấp nhận cùng một thủ tục để GQTC thì vụ tranh chấp đó chỉ có thể được đưa ra giải quyết theo thủ tục đó, trừ khi các bên có thỏa thuận khác”. Khi các bên trong tranh chấp đạt tới sự thống nhất trong việc lựa chọn một thiết chế tài phán để giải quyết tranh chấp, cụ thể là lựa chọn Tòa trọng tài theo Phụ lục VII thì Tòa này hoàn toàn có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

+ Tranh chấp không thuộc các trường hợp ngoại lệ không bắt buộc theo Khoản 1 Điều 298 UNCLOS về các trường hợp không tạo nên thẩm quyền của Tòa. Theo đó, các quốc gia thành viên UNCLOS có thể đưa ra tuyên bố áp dụng điều khoản này với 03 tranh chấp sau: Các vụ tranh chấp liên quan đến việc hoạch định ranh giới các vùng biển hay các vụ tranh chấp về các vịnh hay danh nghĩa lịch sử. Các vụ tranh chấp liên quan đến các hoạt động quân sự. Các vụ tranh chấp mà Hội đồng Bảo An Liên hợp quốc đang giải quyết.

+ Tranh chấp không thuộc các trường hợp bị loại trừ theo khoản 2a và 3a Điều 297 UNCLOS, bao gồm: Các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng các quy định của Công ước về nghiên cứu khoa học biển. Các việc tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng các quy định của Công ước về việc đánh bắt hải sản. Trong trường hợp này, các quốc gia ven biển có quyền tuyên bố loại trừ không chấp nhận thẩm quyền của Tòa. Theo đó, Tòa trọng tài không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này.

2.3. Cơ cấu của Tòa 

Tòa Trọng tài gồm 5 thành viên. Trong đó:

+ Mỗi bên có quyền cử ra một thành viên (có thể là công dân nước mình) trong danh sách mà Tổng thư ký Liên hợp quốc đưa ra, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Nếu trong 30 ngày bên bị trong tranh chấp không cử người thì việc cử người này sẽ do bên nguyên thực hiện.

+ Ba thành viên còn lại do các bên thỏa thuận cử ra trong danh sách và là công dân của nước thứ ba, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Trường hợp các bên không thỏa thuận được về ba thành viên còn lại hay Chánh Tòa trọng tài thì Chán án Tòa án ITLOS sẽ là người quyết định lựa chọn ai. Trong trường hợp chánh án Tòa án ITLOS không lựa chọn được hoặc là người mang quốc tịch của bên tranh chấp thì việc lựa chọn sẽ do người có thâm niên cao nhất trong ITLOS thực hiện, đảm bảo rằng người này cũng không mang quốc tịch của các bên trong tranh chấp.

2.4. Giá trị phán quyết của Tòa

Phán quyết của Tòa trọng tài được thông qua theo nguyên tắc đa số (3/5 thành viên Tòa ủng hộ) nên số các thành viên của Tòa này thường là số lẻ. Mỗi phán quyết cuối cùng của tòa trọng tài đưa ra đều có tính chất tối hậu, chung thẩm và không thể kháng cáo, trừ trường hợp các bên trong tranh chấp có thỏa thuận trước về vấn đề này. Sau một thời gian xem xét kỹ lưỡng tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc, Hội đồng Trọng tài chính thức công bố phán quyết cuối cùng vào ngày 12/07/2016. Nội dung của phán quyết đề cập đến 7/15 nội dung mà Tòa Trọng tài Phụ lục VII lựa chọn thuộc thẩm quyền xét xử, liên quan đến việc giải thích và áp dụng các quy định UNCLOS. Khi phán quyết được đưa ra, phía Trung Quốc có động thái phủ nhận giá trị của phán quyết, tuy nhiên điều này là không phù hợp bởi Điều 296 UNCLOS và Điều 11 Phụ lục VII đã quy định về nghĩa vụ tuân thủ phán quyết mà quốc gia này cần thực hiện. Trước đó, phía Philippines và Trung Quốc không có thỏa thuận về việc kháng cáo. Do đó, phán quyết này có tính chung thẩm và không thể kháng cáo.

3. Đánh giá khả năng sử dụng Tòa án quốc tế về Luật biển

Các tranh chấp mà Việt Nam phải đối diện trên biển Đông hiện nay:

+ Tranh chấp về chủ quyền đối với đảo/đá, thực thể trên biển. Hiện nay, loại tranh chấp này chủ yếu liên quan đến chủ quyền quần đảo Hoàng Sa (với Trung Quốc) và chủ quyền quần đảo Trường Sa (với Trung Quốc, Philippines, Brunei),...

+ Tranh chấp về phân định biển, bao gồm: Phân định ranh giới thềm lục địa trong vịnh Thái Lan với Thái Lan và Malaysia; Phân định vùng đặc quyền kinh tế với Indonesia; Phân định biên giới với Campuchua trong vịnh Thái Lan,...

+ Tranh chấp liên quan đến việc thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, đặc biệt là trong vấn đề khai thác và sử dụng biển. Hiện nay, Việt Nam đang tranh chấp với Trung Quốc trong việc hạ đặt trái phép dàn khoan HD - 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước ta.

Tuy nhiên, không thể sử dụng Tòa ITLOS để giải quyết tất cả 03 tranh chấp mà nước ta đang phải đối mặt hiện nay vì:

+ Tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là tranh chấp về lãnh thổ. Do đó, Tòa ITLOS không có thẩm quyền giải quyết loại tranh chấp này.

+ Tranh chấp về phân định biển bên ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ rất khó để có thể giải quyết. Phía Trung Quốc đã đưa ra tuyên bố loại trừ thẩm quyền của các thiết chế tài phán vào năm 2006. Căn cứ khoản 1, điều 298 UNCLOS, Việt Nam không thể sử dụng Tòa ITLOS để GQTC với Trung Quốc.

- Tranh chấp trên Biển Đông giữa Việt Nam và các bên khác thuộc trường hợp 1, tức là giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia là thành viên của UNCLOS 1982. Do đó, Việt Nam chỉ có thể sử dụng Tòa ITLOS để giải quyết: (1)Tranh chấp về việc thực hiện quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia ven biển. (2)Tranh chấp về phân định biển với các quốc gia Indonesia, Thái Lan, Campuchia,... dựa trên những cơ sở sau:

+ Các bên trong tranh chấp đều là thành viên của UNCLOS 1982.

+ Tranh chấp về thực hiện quyền chủ quyền, quyền tài phán và tranh chấp phân định biển tại Biển Đông đều là tranh chấp thuộc lĩnh vực Luật Biển mà ITLOS có thẩm quyền giải quyết.

 + Việt Nam và các bên trong tranh chấp đã tiến hành trao đổi quan điểm theo điều 283 UNCLOS về cách thức giải quyết tranh chấp nhưng chưa không có kết quả.

 + Các bên trong tranh chấp nêu trên đi đến thống nhất đưa tranh chấp ra Tòa ITLOS để giải quyết bằng một văn bản cụ thể theo Điều 21 Quy chế Tòa và Khoản 4 Điều 287 UNCLOS.

 + Tranh chấp về phân định biển và tranh chấp trong việc thực hiện quyền tài phán, quyền chủ quyền tại Biển Đông không thuộc các ngoại lệ không bắt buộc theo Khoản 1 Điều 298 UNCLOS về các trường hợp không tạo nên thẩm quyền của Tòa.

  + Các tranh chấp trên không rơi vào giới hạn của khoản 2a, 3a Điều 297.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)