CƠ SỞ PHÁP LÝ

Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997

Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993

Hiến pháp Italia 1947

Hiến pháp Nhật Bản 1946

hiến pháp cộng hòa Xéc năm 1992

Đạo luật Liên bang Áo năm 1970

NỘI DUNG TƯ VẤN

1. Khái niệm Chính phủ:

Chính phủ là cơ quan tập thể có thẩm quyền chung thực hiện việc quản lý hoạt động điều hành và thừa hành (hoạt động hành chính) trong phạm vi cả nước.

Định nghĩa trên không hoàn toàn phù hợp với những nước có chính thể cộng hòa tổng thống hay chính thể quân chủ nhị nguyên như Argentina, Hoa Kỳ, Philippines, Venezcula, Jordan... Ở những nước này quyền lãnh đạo hoạt động hành chính khồng phải do một cơ quan tập thể đảm nhiệm mà tập trung vào tay cá nhân Tổng thống hay Nhà vua. Ví dụ, nước Mỹ không có chính phủ theo nghĩa nói trên. Các Bộ trưởng của bộ máy hành pháp trực thuộc trực tiếp Tổng thống. Dưới Tổng thống thành lập Nội các nhưng đây không phải là cơ quan tập thể, Nội các không trực tiếp thông qua quyết định mà chỉ thảo luận những vấn đề được đưa ra nhằm tư vấn giúp Tổng thống. Những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan hành pháp đều do Tổng thống quyết định. Bởi vậy, Tổng thống Mỹ vừa là người đứng đầu nhà nước, vừa là người đứng đầu nhánh quyền hành pháp.

Đối với những nước sử dụng tiếng Anh, thuật ngữ “Government” mà Hiến pháp sử dụng thường được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng là “cai trị”, tức là hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo V.I.Lênin, nhà nước là một bộ máy cai trị. Bộ máy cai trị ở đây bao gồm hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Bởi vì để thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình, nhà nước phải có cơ quan ban hành luật - thực hiện quyền lập pháp. Cơ quan này thường được gọi là Nghị viện; cơ quan thực hiện và đưa vào cuộc sống những quy phạm chứa đựng trong các văn bản luật đó - Chính phủ; cơ quan bảo vệ pháp luật, thực hiện chức năng xét xử - hệ thống tòa án. Ngoài ra bộ máy cai trị còn bao gồm các cơ quan khác được sử dụng làm công cụ đắc lực để thực hiện quyền lực nhà nước (cảnh sát, quân đội, nhà tù).

Nghĩa hẹp của thuật ngữ này là Chính phủ. Bởi vậy để hiểu cho đúng nghĩa của thuật ngữ “Government” phải căn cứ vào ngữ cảnh cụ thể.

Một điểm nữa, thuật ngữ “Chính phủ” không đồng nghĩa với thuật ngữ “chính quyền hành pháp”. Bởi lẽ Chính phủ, trong một số trường hợp, không phải là cơ quan duy nhất thực hiện quyền hành pháp. Ví dụ, ở các nước có chính thể cộng hòa hỗn họp quyền hành pháp được thực hiện bởi Tổng thống và Chính phủ. Như vậy, thuật ngữ “chính quyền hành pháp” rộng hơn thuật ngữ “Chính phủ”. Chính phủ ở các nước có tên gọi khác nhau. Ví dụ, Anh, Colombia, Cộng hòa Séc - Chính phủ; Ấn Độ, Ba Lan, Cu Ba, Pháp - Hội đổng Bộ trưởng; Nauy, Phần Lan- Hội đồng nhà nước; Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Liên bang Nga - Chính phủ Liên bang; Thụy Sĩ - Hội đổng Liên bang; Nhật Bản- Nội các; Trung Quốc - Quốc vụ viện...

Bên trong chính phủ có thể thành lập cơ quan hẹp hơn như Nội các ở Anh, Đoàn chủ tịch - Italia.

2. Thành phần chính trị của Chính phủ

Về thành phần chính trị có Chính phủ một đảng, chính phủ liên minh và chính phủ không đảng phái.

2.1 Chính phủ một đảng được thành lập ở những nước có chính thể đại nghị

Chính phủ một đảng được thành lập ở những nước có chính thể đại nghị, chính thể cộng hòa hỗn hợp trong trường hợp, một trong số các đảng chính trị trong cuộc bầu cử lập pháp chiếm được đa số tuyệt đối số ghế ở Hạ nghị viện (hay ở Nghị viện đối với những nước có một viện). Ví dụ, hiện nay Chính phủ một đảng được thành lập ở các nước Anh, Hunggari, Hàn Quốc, Ixraen, Pháp...

Đối với những nước có chính thể cộng hòa tổng thống, Tổng thống thường bổ nhiệm người của đảng mình vào các ghế bộ trưởng không phụ thuộc vào thành phần Nghị viện, tức là không phụ thuộc vào đảng có chiếm được đa số ghế ở Nghị viện (Hạ nghị viện) hay không. Ví dụ: Ở Vênêzuêla trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1978 đảng Xã hội Thiên chúa giáo thắng cử đã thành lập chính phủ từ các thành viên của đảng, mặc dù tại thời điểm đó ở Hạ nghị viện đảng Xã hội Thiên chúa giáo chỉ chiếm 84 trong tổng số 199 ghế, ở Thượng nghị viện 22 trong tổng số 47 ghê10. Đối với các nước khác như Mỹ, nhằm phục vụ lợi ích chính trị, Tổng thống thường bổ nhiệm cả đại diện của các đảng chính trị khác vào thành phần Chính phủ của mình. Ví dụ, Tổng thống nước Mỹ nhiệm kỳ 1996-2000 là người của đảng Dân chủ nhưng trong thành phần bộ máy hành pháp có cả đại diện của đảng Cộng hòa.

2.2 Chính phủ liên minh được thành lập ở các nước có chính thể đại nghị

Chính phủ liên minh được thành lập ở các nước có chính thể đại nghị, cộng hòa hỗn hợp trong trường hợp trong cuộc bầu cử lập pháp không một đảng chính trị nào giành được đa số tuyệt đối ghế đại biểu ở Hạ nghị viện (Nghị viện) để thành lập Chính phủ một đảng. Chính phủ liên minh là kết quả của sự thỏa hiệp giữa các đảng chính trị có ghế ở Nghị viện về chương trình hoạt động của Chính phủ và về vấn đề nhân sự trong thành phần của Chính phủ. Trong hoạt động, Chính phủ liên minh dựa vào sự ủng hội của đa số thành viên của Nghị viện. Thành phần của đa số này gồm thành viên của các đảng chính trị tham gia liên minh hoặc có thể bao gồm cả thành viên của các đảng chính trị khác hay các đại biểu độc lập. Hiện nay chính phủ liên minh được thành lập ở các nước Ân Độ, Cộng hòa Liên bang Đức, Nhật Bản, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ...

Có trường hợp chính phủ được thành lập bởi đảng chính trị chiếm thiểu số ghế ở Hạ nghị viện (Nghị viện) trên cơ sở sự ủng hộ của các đảng chính trị khác. Các đảng này ủng hộ Chính phủ về chính trị (ủng hộ đường lối, chính sách của chính phủ) nhưng không cử người của đảng vào thành phần của Chính phủ. Vì thế Chính phủ loại này còn được gọi là “Chính phủ thiểu số”. Chính phủ thiểu số là hiện tượng thường thấy trong đời sống chính trị của một số nước Bắc Âu như Đan Mạch, Nauy, Thụy Điển.

2.3 Chính phủ không đảng

Chính phủ không đảng phái được thành lập trong trường hợp các đảng chính trị có ghế ở Hạ nghị viện (Nghị viện) không đạt được thỏa thuận về việc thành lập Chính phủ liên minh, đồng thời việc giải thể Hạ nghị viện (Nghị viện) nằm ngoài sự mong muốn. Chính phủ loại này còn được gọi là “Chính phủ công vụ”. Thành phần của Chính phủ gồm những chuyên, gia thuộc đảng này hay đảng khác nhưng đảng tịch của họ không gây ảnh hưởng đến hoạt động của Chính phủ. Thời gian tổn tại của Chính phủ này không lâu, thường chỉ trong một thời gian cho đến khi thành lập chính phủ có đảng tịch. Bởi vậy trong hoạt động, Chính phủ loại này thường hạn chế ở việc thông qua những quyết định theo các vấn đề hiện tại. Những nước như Bổ Đào Nha, Hà Lan, Phần Lan đã có thời gian thành lập loại chính phủ này.

3. Thành phần của Chính phủ Pháp:

Theo quy định tại Điều 20 Hiến pháp năm 1958 Chính phủ Pháp có chức năng xác định và thực hiện chính sách quốc gia. Chính phủ quản lý bộ máy hành chính và lực lượng quân sự. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Đứng đầu Chính phủ là thủ tướng. Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo hoạt động cúa Chính phủ, chịu trách nhiệm về quốc phòng, đảm bảo việc thực hiện các luật và có quyền ban hành các văn bản pháp quy, bổ nhiệm các chức vụ dân sự và quân sự.

Khái niệm chính quyền hành pháp trung ương ở Pháp bao gồm Tổng thống và Chính phủ. Có thể nói rằng đây là chính quyền hành pháp lưỡng đầu chế. Như vậy chúng ta có thể thấy rằng khái niệm chính quyền hành pháp rộng hơn khái niệm Chính phủ bởi Chính phủ chỉ bao gồm Thủ tướng, các bộ trưởng và các quốc vụ khanh (Les Secretaires d’Etat).

Thủ tướng không phải là người đứng đầu chính quyền hành pháp mà chỉ là người đứng đầu Chính phủ. Trong Chính phủ Pháp có nhiều loại bộ trưởng khác nhau. Người ta có thể phân chia thành các loại bộ trưởng sau đây:

  • Bộ trưởng Nhà nước (Ministre d’Etat): đây là các bộ trưởng của các bộ quan trọng nhất hoặc là hàm danh dự dành cho một nhân vật chính trị có uy tín lớn thuộc Đảng đang chiếm đa số ghế trong Nghị viện. Thông thường bộ trưởng Nhà nước là bộ trưởng của bốn bộ Ngoại giao, Nội vụ, Quốc phòng, Tư pháp.
  • Bộ trưởng đứng đầu các ngành (hiện nay ở Pháp có 19 Bộ trưởng đứng đầu các ngành) là các vị bộ trưởng lãnh đạo một ngành, một lĩnh vực nhất định.
  • Bộ trưởng đặc trách bên cạnh thủ tướng hoặc bộ trưởng đặc trách bên cạnh Bộ trưởng (Les ministres délégés). Bộ trưởng đặc trách bên cạnh Thủ tướng thực hiện một số nhiệm vụ của Thủ tướng, chia sẻ gánh nặng của Thủ tướng. Vai trò của các vị bộ trưởng này như các phó thủ tướng. Các bộ trưởng đặc trách bên cạnhbộ trưởng thực hiện một số nhiệm vụ đặc biệt do bộ trưởng đó giao phó
  • Thư ký Nhà nước (Quốc vụ khanh) có thể là những người phụ trách một lĩnh vực độc lập do Chính phủ giao phó cũng có thể là những người cố vấn đặc biệt làm việc cho thủ tướng hoặc thực hiện một phần công việc của bộ trưởng.

Chính phủ của bà Cresson thành lập 16/5/1991 bao gồm 5 bộ trưởng Nhà nước và 14 bộ trưởng khác phụ trách các ngành, 10 bộ trưởng đặc trách và 15 thư ký Nhà nước. Để thực hiện hoạt động của mình Chính phủ thành lập ra Hội đồng bộ trưởng và Hội đổng liên bộ.

Hội đồng bộ trưởng là cơ quan tập thể của Chính phủ có đầy đủ thẩm quyền quyết định các công việc của Chính phủ. Nếu thành phần của Chính phủ bao gồm cả các quốc vụ khanh thì thành phần của Hội đồng bộ trưởng không có các quốc vụ khanh. Các quốc vụ khanh chỉ được mời dự họp khi vấn đề được bàn luận liên quan đến trách nhiệm của quốc vụ khanh đó.

Như vậy có thể thấy rằng thiết chế Hội đồng bộ trưởng có nét tương tự với thiết chế Nội các ở chỗ nó bao gồm các thành phần trung tâm và chủ yếu của Chính phủ. Ngoài Hội đồng bộ trưởng, Chính phủ còn có Hội đồng liên bộ bao gồm các bộ trưởng của một số ngành nhất định. Tổng thống chủ tọa các phiên họp của Hội đồng bộ trưởng và Hội đổng liên bộ. Trường hợp Tổng thống vắng mặt hoặc được sự ủy nhiệm của Tổng thống thì Thủ tướng chủ tọa các phiên họp của Hội đồng bộ trưởng và Hội đồng liên bộ.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê