1. Khái niệm hoạt động nhượng quyền thương mại và thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong nhượng quyền thương mại.

1.1. khái niệm hoạt đôngj nhượng quyền thương mại.

Hiện nay, hoạt động kinh doanh theo mô hình nhượng quyền thương mại đang ngày càng phát triển tại Việt Nam. Việc kinh doanh theo phương thức này giúp các thương nhân dễ dàng tham gia thị trường, từ đó thị trường ngày càng sôi động, nhiều màu sắc. Theo Điều 284 Luật thương mại 2005 sửa đổi, bổ sung 2019 (LTM) quy định khái niệm hoạt động nhượng quyền thương mại là:

“Hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện:

Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;

Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh”. 

Có thể hiểu, hoạt động nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại. Trong đó, bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụ theo cách thức tổ chức kinh doanh, bí mật kinh doanh cùng hình thức thương hiệu của bên nhượng quyền. 

 

1.2 Khái niệm thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong nhượng quyền thương mại.

Thị trường là một nơi có tính cạnh tranh cao, nó đặt ra nhiều thách thức lớn cho thương nhân trong quá trình hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụ. Thương nhân trong hoạt động nhượng quyền thương mại không phải là ngoại lệ. Thậm chí mức độ cạnh tranh còn khắc nghiệt hơn các hình thức kinh doanh khác. Theo đó, các bên trong hoạt động nhượng quyền thương mại bao gồm bên nhượng quyền và bên nhận quyền sẽ có xu hướng đi đến các thỏa thuận ngầm hoặc công khai nhằm hạn chế hoặc triệt tiêu đi yếu tố cạnh tranh trên thị trường. Từ đó, đảm bảo lợi ích các bên và tối đa hóa lợi nhuận thu được. Dưới góc độ khoa học pháp lý, “thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất ý chí của từ hai chủ thể kinh doanh trở lên được thực hiện dưới bất kì hình thức nào, có hậu quả làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường”.

Bên cạnh đó, tại khoán 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018 (LCT) có quy định thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là

hành vi thỏa thuận giữa các bên dưới mọi hình thức gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh”. 

Vậy, có thể hiểu thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại là hành vi thỏa thuận, thống nhất ý chí dưới mọi hình thức giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền có hậu quả làm giảm, sai lệch cản trở cạnh tranh trên thị trường. 

 

2. Đặc điểm của thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại.

Về chủ thể, chủ thể tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại gồm hai bên là bên nhượng quyền thương mại và bên nhận quyền thương mại. Các bên đều phải là thương nhân, “bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” theo khoản 1 Điều 6 LTM. Là các chủ thể hoạt động kinh doanh, thương mại nhằm mục đích sinh lợi và lấy đó làm nghề nghiệp chính của mình và cùng hoạt động kinh doanh một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định. 

Về nội dung, các thỏa thuận có nội dung được quy định tại Điều 11 Luật Cạnh tranh 2018 đều là các thỏa thuận bị pháp luật Việt Nam cấm thực hiện. 

Về hình thức, những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể tồn tại dưới bất cứ hình thức nào. Hiện nay Luật Cạnh tranh 2018 chỉ đưa ra khái niệm chung về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chứ chưa đưa ra định nghĩa cụ thể về yếu tố “thỏa thuận”. Do vậy, chúng ta chỉ có thể ngầm hiểu những hình thức của thỏa thuận này bao gồm bằng văn bản, thỏa thuận miệng, hình thức điện tử, công khai hay ngầm định.

Về điều kiện hình thành, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chỉ được hình thành khi có sự thống nhất về ý chí của bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Sự thống nhất cùng hành động của các bên trong thỏa thuận có thể được thể hiện công khai hoặc không công khai.

Về hậu quả, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các bên trong nhượng quyền thương mại phải gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường.

 

3. Các loại thoả thuận hạn chế cạnh tranh liên quan đến hoạt động nhượng quyền thương mại theo luật cạnh tranh 2018.

Hiện nay hoạt động nhượng quyền thương mại chịu sự điều chỉnh của cả Luật Thương mại lẫn Luật Cạnh tranh. Vì vậy không thể tránh khỏi sự chồng chéo giữa các quy định. Theo đó, Luật Thương mại quy định khái niệm, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động nhượng quyền thương mại. Cùng với đó, đặc điểm của hoạt động này là tính đồng bộ trên toàn hệ thống. Kết quả là trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ, các bên có thể có những thỏa thuận gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Pháp luật Việt Nam quy định các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại Điều 11 Luật Cạnh tranh 2018. Tuy nhiên, khi áp dụng Luật Cạnh tranh vào điều chỉnh hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh liên quan đến nhượng quyền thương mại, cần phải căn cứ vào đặc điểm và nội dung của thỏa thuận để đảm bảo điều chỉnh một cách chính xác. Theo đó, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mà các bên trong hoạt động nhượng quyền thương mại có thể thực hiện là các thỏa thuận được quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 5, khoản 6 và khoản 8 Luật Cạnh tranh 2018.

 Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa một cách trực tiếp hoặc gián tiếp được quy định tại khoản 1 Điều 11 LCT là “hành vi ấn định giá do bên nhượng quyền đưa ra”. Theo đó, việc ấn định giá trực tiếp có thể là việc đưa ra mức giá cụ thể cho hàng hóa, dịch vụ. Hoặc ấn định giá bán tối đa và giá bán tối thiểu cho bên nhận quyền. Ấn định giá gián tiếp là việc ấn định mức giảm giá, chiết khấu giá. Việc thỏa thuận về giá có thể được các bên thực hiện vào thời điểm giao kết hợp đồng hoặc trong quá trình thực hiện hợp đồng. Hậu quả của thỏa thuận này là gây hạn chế cạnh tranh giữa các bên trong hệ thống nhượng quyền, ảnh hưởng đến quyền được hưởng mức giá hợp lý của khách hàng. Ngoài ra, các bên trong hệ thống nhượng quyền có thể thông qua thỏa thuận về giá để tạo ra “lợi nhuận độc quyền” hoặc trở thành hệ thống độc quyền. Từ đó có thể tác động đến mức giá sản phẩm, dịch vụ của toàn bộ thị trường liên quan. 

Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Một trong những cách thúc đẩy nhu cầu của thị trường và tăng giá thành sản phẩm đó là các bên trong hệ thống nhượng quyền sẽ thỏa thuận với nhau về việc cắt, giảm, ấn định lượng hàng hóa, dịch vụ cung ứng trên thị trường. Việc này tạo ra sự khan hiếm hàng hóa giả tạo, gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Do đó, đây là nội dung được quy định tại khoản 3 Điều 11 Luật Cạnh tranh.  

Thỏa thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Bên nhượng quyền có thể thỏa thuận với bên nhận quyền để phân chia khu vực kinh doanh, cung cấp dịch vụ. Từ đó, phân chia khách hàng, thị trường tiêu thụ sản phẩm, giúp tối đa hóa lợi nhuận, hạn chế tính cạnh tranh giữa các bên trong cùng hệ thống nhượng quyền. Cùng với đó là thỏa thuận lựa chọn nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ dễ làm gây ra tình trạng cung ứng độc quyền trên thị trường. Thỏa thuận này được quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật Cạnh tranh. 

Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh

Với mục đích làm hạn chế cạnh tranh, bảo vệ lợi ích của các bên tham gia thỏa thuận. Các bên trong hoạt động nhượng quyền thương mại có thể thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác gia nhập thị trường hoặc phát triển kinh doanh theo quy định tại khoán 5 Điều 11 LCT. Theo đó, các bên sẽ từ chối mua, bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho bên thứ ba là đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận mà chưa hoặc đang hoạt động trên thị trường liên quan, được cho rằng sẽ đem lại thiệt hại cho hệ thống nhượng quyền. 

Thỏa thuận áp đặt hoặc ấn định điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.

Với mục tiêu là giảm sức ép cạnh tranh, bên nhượng quyền và bên nhận quyền có thể thỏa thuận, thống nhất với nhau một số nội dung là điều kiện tiên quyết trước khi ký kết hợp đồng. 

Bên cạnh đó, bên nhượng quyền có thể có thỏa thuận buộc bên nhận quyền chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tuợng của hợp đồng nhượng quyền thương mại. Nghĩa là buộc bên nhận quyền phải thực hiện một số nghĩa vụ đi kèm nhưng nằm ngoài phạm vi của hợp đồng. Nếu không thực hiện sẽ không được bên nhượng quyền thực hiện nhượng quyền thương mại. Đây là nội dung của thỏa thuận được quy định tại khoản 8 Luật Cạnh tranh 2018. 

Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận.

Trong thỏa thuận này, bên nhượng quyền yêu cầu bên nhận quyền chỉ được phép sử dụng một nguồn cung cấp nguyên liệu, hàng hóa nhất định theo chỉ định của bên nhượng quyền. Nhằm đảm bảo sự đồng bộ chất lượng sản phẩm, dịch vụ, hạn chế bị giả mạo thương hiệu của hệ thống nhượng quyền. Nhưng lại làm hạn chế việc tiếp cận thị trường của các đối thủ cạnh tranh, hạn chế quyền tự do lựa chọn sản phẩm, cơ hội tạo nên sự khác biệt trong sản phẩm của bên nhận quyền. Nội dung này được quy định tại khoản 6 Điều 11 Luật Cạnh tranh.

 

4. Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm liên quan đến nhượng quyền thương mại.

Thay vì quy định cấm dựa trên mức thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận như trong Luật năm 2004. Luật Cạnh tranh 2018 sửa đổi thành quy định các tiêu chí đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể làm cơ sở để quy định cấm đối với một số hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. 

Pháp luật Việt Nam quy định tại khoản 1 Điều 12 LCT cấm những thỏa thuận được quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 11 LCT giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan. Thị trường liên quan được quy định tại khoản 7 Điều 3 LCT. Cách xác định thị trường liên quan cũng được quy định rõ tại Điều 9 LCT, từ Điều 3 đến Điều 7 Nghị định Số: 35/2020/NĐ-CP ngày 24/03/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh (Nghị định Số: 35/2020/NĐ-CP). Theo đó, thị trường liên quan được xác định dựa trên cơ sở thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan. Đối chiếu với nhượng quyền thương mại là các bên trong hệ thống nhượng quyền mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cùng một loại và tất nhiên, chúng có thể “thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả”. Bên cạnh đó, thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lí đủ gần để có thể tham gia cạnh tranh, tức có thể là cùng một thành phố hoặc cùng một quốc gia. Từ đây, có thể thấy được các bên trong hệ thống nhượng quyền đều đang hoạt động trên cùng thị trường liên quan. Do đó, nếu các bên trong hệ thống nhượng quyền cùng thống nhất đưa ra những thỏa thuận có nội dung được quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 11 LCT thì bị cấm theo khoản 1 Điều 12 LCT. Đây là các thỏa thuận theo chiều ngang có tính chất nghiêm trọng bị cấm theo quy tắc vi phạm mặc nhiên. Liên quan đến việc tác động đến giá, phân bổ trị trường, khách hàng cũng như ngăn chặn các doanh nghiệp khác tham gia thị trường. 

Ngoài ra, nếu các bên có thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo khoản 8 Điều 11 thì bị cấm theo khoản 3 Điều 12 LCT khi thỏa thuận đó gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường. Mặt khác, giữa các bên trong hệ thống nhượng quyền thực hiện vai trò khác nhau trong các công đoạn khác nhau của hệ thống như sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ mà có các thỏa thuận được quy định tại các khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 8 Điều 11 thì bị cấm theo khoản 4 Điều 12 LCT khi các thỏa thuận đó gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường. Việc đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được quy định tại Điều 13 LCT và Điều 11 Nghị định Số: 35/2020/NĐ-CP. 

Bên cạnh đó, những thỏa thuận được quy định tại khoản 4, khoản 5, khoản 6 Điều 11 LCT được mặc nhiên cấm theo khoản 2 Điều 12 LCT. Vì những thỏa thuận này gây ra hậu quả hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng trên thị trường. 

Luật Minh Khuê (tổng hợp)