1.Khái niệm phạm tội chưa đạt là gì ?
Điều 18 Bộ luật hình sự quy định: “Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội”. Theo Luật hình sự Việt Nam, có ba dấu hiệu xác định trường hợp phạm tội chưa đạt: - Một là, người phạm tội đã bắt đầu thực hiện tội phạm. Đây là dấu hiệu phân biệt chuẩn bị phạm tội với phạm tội chưa đạt. Sự bắt đầu này thể hiện ở chỗ: người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm. Ví dụ, kẻ giết người đã bắt đầu thực hiện hành vi tước đoạt sinh mạng người khác như đã đâm, chém, bắn... là hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm của tội giết người (Điều 93 Bộ luật hình sự). Cũng coi là đã bắt đầu thực hiện tội phạm khi người phạm tội đã thực hiện được hành vi đi liền trước hành vi khách quan. Đó là những hành vi mà về mặt khách quan và chủ quan đã thể hiện rằng đó là sự bắt đầu của hành vi khách quan và tiếp ngay sau đó hành vi khách quan sẽ xảy ra. Ví dụ, hành vi nhặt dao để đâm, lắp đạn để bắn trong trường hợp phạm tội giết người được coi là những hành vi đi liền trước. Những hành vi này chưa phải là hành vi khách quan, chưa phải là hành vi tước đoạt sinh mạng của người khác nhưng đó là sự bắt đầu của hành vi khách quan, và kế tiếp ngay sau đó tất yếu hành vi khách quan sẽ xảy ra. Những hành vi đi liền trước như vậy tuy thể hiện sự chuẩn bị nhưng nó rất gần với hành vi khách quan, không tách ra được nên cũng được coi là hành vi thực hiện tội phạm. - Hai là, người phạm tội chưa thực hiện tội phạm đến cùng (về mặt pháp lý). Nghĩa là, hành vi của họ chưa thoả mãn hết các dấu hiệu thuộc mặt khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm. Những trường hợp này có thể xảy ra ở một trong những dạng dưới đây: + Chủ thể chưa thực hiện được hành vi khách quan mà mới chỉ thực hiện được hành vi đi liền trước. + Chủ thể đã thực hiện hành vi khách quan nhưng chưa thực hiện hết các hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm. + Chủ thể đã thực hiện hành vi khách quan nhưng chưa gây ra hậu quả của tội phạm (ở những tội phạm có cấu thành vật chất). + Chủ thể đã thực hiện hành vi khách quan, có hậu quả xảy ra nhưng không có quan hệ nhân quả với hành vi khách quan mà chủ thể thực hiện (ở tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất). - Ba là, người phạm tội không thực hiện được tội phạm đến cùng là do những nguyên nhân ngoài ý muốn của họ. Bản thân người phạm tội vẫn muốn tội phạm hoàn thành nhưng tội phạm không hoàn thành được là có thể do: + Nạn nhân hoặc người bị hại đã chống lại được hoặc đã tránh được; + Người khác đã ngăn chặn được; + Có những trở ngại khác như bắn nhưng đạn không nổ, thuốc độc dùng để đầu độc không đủ liều lượng hoặc thuốc giả... Lưu ý, trong tội phạm có 4 yếu tố là khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan. Nhưng chỉ có yếu tố mặt khách quan là quan trọng nhất trong việc xác định các giai đoạn thực hiện tội phạm. Vì trong quá trình phạm tội, 3 yếu tố kia là không thay đổi, chỉ có mặt khách quan là yếu tố thay đổi.
2. Các dạng phạm tội chưa đạt
* Căn cứ vào mục đích thực hiện của hành vi phạm tội, người ta phân biệt hai trường hợp phạm tội chưa đạt: + Chưa đạt chưa hoàn thành (về hành vi): người phạm tội chưa thực hiện hết các hành vi phạm tội cần thiết để gây hậu quả. Ví dụ, đối với tội hiếp dâm (Điều 111 Bộ luật hình sự) về mặt khách quan được mô tả là: “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ”. Trong trường hợp này, nếu người phạm tội chỉ mới dùng một trong những hành vi tiền đề (dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực…) nhưng chưa giao cấu được với nạn nhân thì được xem là phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành. + Chưa đạt đã hoàn thành: người phạm tội đã thực hiện được những hành vi cần thiết cho rằng để đạt được mục đích (hậu quả), nhưng hậu quả không xảy ra do những nguyên nhân ngoài ý muốn. Ví dụ, đối với tội giết người (Điều 93 Bộ luật hình sự), mặt khách quan đòi hỏi phải có hành vi tước đoạt sinh mạng của người khác một cách trái pháp luật và hậu quả phải có người chết từ hành vi đó. Nếu chỉ có hành vi tước đoạt sinh mạng một cách trái pháp luật (đầu độc, bắn, đâm, chém…vào những vùng trên cơ thể có thể dẫn đến chết người…) nhưng hậu quả chưa xảy ra thì được xem là phạm tội chưa đạt đã hoàn thành. Việc xác định giai đoạn chưa đã chưa hoàn thành hay chưa đạt đã hoàn thành có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét một người có phải là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội hay không. Điều kiện của một người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trước hết chỉ xảy ra đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành. Nếu một người đang ở giai đoạn chưa đạt đã hoàn thành thì không còn cơ hội để thực hiện việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội nữa. Bởi vì, chưa đạt đã hoàn thành, về bản chất, nguy hiểm hơn chưa đạt chưa hoàn thành. * Căn cứ vào nguyên nhân khách quan cản trở tội phạm thực hiện đến cùng, người ta cũng có thể chia phạm tội chưa đạt thành: + Chưa đạt vô hiệu: là trường hợp phạm tội chưa đạt do sử dụng công cụ, phương tiện vô hiệu. + Chưa đạt do nguyên nhân khác: có thể do đối tượng tác động của tội phạm không có.
3. Trách nhiệm hình sự của giai đoạn hình sự chưa đạt
Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, Luật hình sự Việt Nam quy định mọi trường hợp phạm tội chưa đạt đều phải chịu trách nhiệm hình sự vì trong trường hợp này kẻ phạm tội đã có hành vi trực tiếp xâm hại đến khách thể, đã trực tiếp đe doạ gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Phạm tội chưa đạt nguy hiểm hơn chuẩn bị phạm tội. Cho nên, hình phạt đối với giai đoạn phạm tội chưa đạt cũng cao hơn giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Theo khoản 3 Điều 52 Bộ luật hình sự, đối với trường hợp phạm tội chưa đạt: - Nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng các hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; - Nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức hình phạt tù mà điều luật quy định. Theo Điều 18 Bộ luật hình sự, người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt. Quy định này thường được hiểu là bất kỳ tội phạm nào mà người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp mà dừng lại ở giai đoạn chưa đạt đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Trong lý luận Luật hình sự không thấy đề cập đến vấn đề này và cách hiểu trên hình như là mặc nhiên. Tuy nhiên, qua nghiên cứu một số tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp được quy định trong Bộ luật hình sự, không phải lúc nào người phạm tội chưa đạt cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Ví dụ, người có hành vi trộm cắp tài sản nhưng giá trị tài sản dưới 500 ngàn đồng mà không gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về các tội chiếm đoạt chưa được xoá án tích. Trường hợp này, người có hành vi trộm cắp có thể bị xem là phạm tội chưa đạt (như lý luận về tội phạm chưa đạt đối với tội trộm cắp tài sản – Điều 138 Bộ luật hình sự). Tuy nhiên, theo luật định, người có hành vi trên không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản ở giai đoạn chưa đạt mà chỉ bị xử phạt hành chính về hành vi này. Vì vậy, khi nghiên cứu lý luận về phạm tội chưa đạt và trách nhiệm hình sự của giai đoạn phạm tội này nên chú ý chỉ những tội phạm nào mà Bộ luật hình sự không quy định là phải xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật khi hành vi chưa thoả mãn cấu thành tội phạm thì hành vi phạm tội chưa đạt mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 18 Bộ luật hình sự.
4. Tội phạm hoàn thành
Một tội phạm được coi là hoàn thành khi hành vi phạm tội đã thoả mãn hết các dấu hiệu khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm. Điều đó có nghĩa là khi một tội phạm hoàn thành thì hành vi phạm tội đã có đủ các dấu hiệu nói lên được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của loại tội đó. Với quan niệm này, Luật hình sự Việt Nam khẳng định: thời điểm tội phạm hoàn thành không phụ thuộc vào việc người phạm tội đã đạt được mục đích của mình hay chưa. Khái niệm tội phạm hoàn thành ở đây được hiểu theo nghĩa hoàn thành về mặt pháp lý, tức là tội phạm đã thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Một tội phạm khi đã hoàn thành về mặt pháp lý, có thể dừng lại, không xảy ra nữa trong thực tế, nhưng cũng có thể tiếp tục xảy ra. Trái lại, một tội phạm có thể tuy đã dừng lại nhưng chưa hoàn thành. Trong thực tiễn áp dụng, khi xác định một trường hợp phạm tội cố ý cụ thể đã hoàn thành hay chưa, chỉ cần kiểm tra hành vi phạm tội đó đã thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm hay chưa. Sẽ là trường hợp phạm tội hoàn thành nếu hành vi phạm tội đã thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Và ngược lại, sẽ là trường hợp phạm tội chưa hoàn thành nếu hành vi phạm tội chưa thoả mãn hết các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm. Như vậy, việc quy định thời điểm hoàn thành của từng tội phạm được thực hiện qua việc xây dựng các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Thời điểm hoàn thành sớm hay muộn là tuỳ thuộc vào việc xây dựng các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Dĩ nhiên, việc đưa dấu hiệu nào vào cấu thành tội phạm không phải là tuỳ ý thích chủ quan của các nhà làm luật mà phụ thuộc vào các yếu tố khách quan. Những dấu hiệu đó phải phản ánh được bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và đảm bảo thời điểm hoàn thành của tội phạm phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như các đặc điểm của tội phạm. Căn cứ vào định nghĩa chung về tội phạm hoàn thành và dựa vào đặc điểm cấu trúc của các loại cấu thành tội phạm, có thể rút ra được kết luận về thời điểm hoàn thành của các loại tội có cấu thành vật chất, có cấu thành hình thức và cấu thành cắt xén như sau: - Những tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất hoàn thành khi người phạm tội đã gây ra hậu quả của tội phạm phù hợp với yêu cầu của điều luật. Ví dụ, tội giết người là tội có cấu thành tội phạm vật chất nên tội phạm này hoàn thành khi hậu quả chết người đã xảy ra. - Những tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức hoàn thành ngay khi người phạm tội đã thực hiện xong hành vi phạm tội. Ở những các loại tội này, dấu hiệu hành vi có thể chỉ là một hành vi như tội cướp tài sản của công dân (dùng vũ lực ...) nhưng cũng có thể bao gồm nhiều hành vi khác nhau như tôi hiếp dâm (dùng vũ lực ... và giao cấu...). Trong trường hợp này, tội phạm hoàn thành khi tất cả các hành vi đó đều đã xảy ra. - Những tội phạm có cấu thành tội phạm cắt xén hoàn thành khi người phạm tội đã có những hoạt động bất kỳ nhằm thực hiện hành vi phạm tội. Thời điểm tội phạm hoàn thành cần phải được phân biệt với thời điểm tội phạm kết thúc. Tội phạm kết thúc là thời điểm hành vi phạm tội đã thực sự chấm dứt trên thực tế. Hai thời điểm này có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau. Mọi hành vi phạm tội đều có thể dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt và ngược lại, một tội phạm tuy đã hoàn thành nhưng có thể tiếp tục vẫn xảy ra. Trong khi áp dụng quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, việc xác định thời điểm tội phạm kết thúc sẽ có ý nghĩa đối với những trường hợp giữa thời điểm tội phạm hoàn thành và thời điểm tội phạm kết thúc có khoảng cách như ở những trường hợp tội kéo dài hoặc tội liên tục. Đối với những trường hợp này, việc tính thời hạn phải kể từ ngày tội phạm kết thúc. Ngoài ra, thời điểm kết thúc của một hành vi phạm tội cũng có ý nghĩa trong việc xác định có đồng phạm hay không. Nếu trên thực tế, hành vi phạm tội đã kết thúc thì không thể có đồng phạm, nhưng nếu hành vi phạm tội chỉ mới hoàn thành mà chưa kết thúc thì vẫn có thể có xảy ra đồng phạm.
5. Khái niệm chuẩn bị phạm tội
Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có những hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm, nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó. Thời điểm sớm nhất của giai đoạn phạm tội này là thời điểm người phạm tội bắt đầu có hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội có thể xảy ra và xảy ra được thuận lợi, dễ dàng hơn. Những suy nghĩ, tính toán của con người diễn ra trong đầu của họ không phải là chuẩn bị phạm tội dù đó là ý định phạm tội. Luật hình sự Xô-viết và các nước xã hội chủ nghĩa trước kia cũng theo quan điểm này. Thời điểm muộn nhất là thời điểm trước lúc người phạm tội bắt đầu thực hiện hành vi khách quan được phản ánh trong cấu thành tội phạm. Đó là thời điểm giới hạn giữa chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt. Tóm lại, hành vi chuẩn bị phạm tội phải thể hiện được ba dấu hiệu: - Người phạm tội có hành vi chuẩn bị các điều kiện vật chất hoặc tinh thần cho việc thực hiện tội phạm; - Hành vi chuẩn bị dừng lại trước khi người phạm tội bắt đầu thực hiện các hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm hoặc hành vi đi liền trước các hành vi đó; - Việc dừng lại ở giai đoạn này là do nguyên nhân khách quan. Như vậy, tất cả các hành vi chuẩn bị phạm tội đều chưa trực tiếp làm biến đổi tình trạng của đối tượng tác động để gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là khách thể của loại tội định thực hiện. Nhưng với tính chất là hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm, hành vi chuẩn bị phạm tội hợp thành một thể thống nhất với hành vi thực hiện tội phạm, là hành vi trực tiếp làm biến đổi tình trạng của đối tượng tác động và qua đó gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm được Luật hình sự bảo vệ. Sự gây thiệt hại cho khách thể có thể xảy ra hay không xảy ra và xảy ra như thế nào rõ ràng có sự phụ thuộc nhất định vào hành vi chuẩn bị phạm tội. Chính vì vậy, hành vi chuẩn bị cũng được coi là một giai đoạn của quá trình thực hiện tội phạm. Trong thực tế, hành vi chuẩn bị phạm tội có thể thể hiện ở một số dạng như: - Chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội; - Chuẩn bị kế hoạch phạm tội; - Thăm dò địa điểm phạm tội; - Thăm dò, làm quen với nạn nhân hoặc người bị hại; - Loại trừ trước những trở ngại khách quan cho việc phạm tội...v.v... Trong những dạng chuẩn bị này, hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện là dạng phổ biến nhất, vì nói chung đó là điều kiện cần thiết cơ bản cho quá trình thực hiện tội phạm. Chính vì vậy, Điều 17 Bộ luật hình sự định nghĩa: chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm. Theo Luật hình sự Việt Nam, không phải hành vi chuẩn bị phạm tội nào cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người chuẩn bị phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu tội định phạm là tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng (Điều 17). Để xác định mức độ trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm tội, ngoài những căn cứ chung phải xét các tình tiết sau: - Tính chất và mức độ chuẩn bị; - Những tình tiết khiến người phạm tội chưa thực hiện được tội phạm. Và khi phải chịu trách nhiệm hình sự, mức trách nhiệm hình sự của người có hành vi chuẩn bị phạm tội cũng rất hạn chế, thấp hơn nhiều so với mức trách nhiệm hình sự được Bộ luật hình sự quy định cho hành vi phạm tội đến giai đoạn hoàn thành của một tội phạm tương ứng. Theo Điều 52 Bộ luật hình sự, “đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá một phần hai mức hình phạt tù mà điều luật quy định”. Chú ý, nếu hành vi chuẩn bị phạm tội đã cấu thành một tội độc lập khác thì người có hành vi chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội độc lập đó. Ví dụ, vì có ý định giết B nên A đã tìm kiếm súng quân dụng giữ trong nhà. Sau khi có súng, nhưng chưa kịp tiến hành việc giết B thì A đã bị bắt. Trong trường hợp này, hành vi tìm kiếm và tàng trữ vũ khí là hành vi chuẩn bị giết người nhưng bản thân hành vi này đã cấu thành tội độc lập khác là tội tàng trữ vũ khí quân dụng trái phép (Điều 230 Bộ luật hình sự).
Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)