Chúng ta biết quan hệ sở hữu chung của vợ chồng là quan hệ xã hội khách quan. Khi có quan hệ hôn nhân, quan hệ vợ chồng thì cuộc sống chung của họ sẽ tạo ra những giá trị chung về vật chất và tinh thần và sở hữu tài sản chung khi đó là cơ sở vật chất cho đời sống chung của hai người, là điều kiện để họ thực hiện các chức năng xã hội của gia đình như sinh đẻ, giáo dục nuôi dưỡng, thoả mãn những nhu cầu chung cũng như của cá nhân họ.

Trong xã hội có nhà nước và pháp luật, khi sở hữu là đối tượng lập pháp thì sở hữu cá nhân, sở hữu gia đình, sở hữu vợ chồng cũng là một đối tượng lập pháp quan trọng. Có thể nói, xã hội nào có hôn nhân, vợ chồng thì cũng đều tồn tại sở hữu chung của vợ chồng. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi giai đoạn phát triển, sự điều chỉnh pháp luật về sở hữu chung của vợ chồng có những đặc trưng riêng. Ví dụ: có thời kỳ luật pháp chỉ thừa nhận quyền sở hữu của vợ, chồng, không có sở hữu tài sản, có thời kỳ vợ chồng đều có quyền sở hữu tài sản, và tài sản chung có thể xác lập theo pháp luật hoặc theo thỏa thuận….

Tuy nhiên, về bản chất, sở hữu chung của vợ chồng là sở  hữu của các thể nhân, chứ không phải là sở hữu của một pháp nhân. Do đó, sở hữu chung của vợ chồng trước hết phản ánh tư tưởng, quan điểm của các nhà làm luật cũng như xã hội về quyền sở hữu của cá nhân cũng như quyền tự do dân sự của các cá nhân thông qua việc ghi nhận và thể hiện sự tự thỏa thuận của các bên chủ thể. Đây là một trong những quyền cơ bản của công dân hiện đã được cộng đồng quốc tế công nhận tại nhiều văn kiện quốc tế. Điều 17, Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế đã khẳng định “Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản một mình hoặc sở hữu tài sản cùng với những người khác”. Hiện nay, pháp luật các  nước  trên  thế  giới  cũng  đều công nhận và bảo hộ quyền sở hữu của cá nhân trong các văn bản pháp    luật của nước mình. Ở Việt Nam, Điều 58 Hiến pháp  năm  1992  đã khẳng định “Công dân có quyền sở hữu…. Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” [6].  Cụ thể  hóa sự  ghi nhận này, Điều 169 BLDS năm 2005 cũng khẳng định “Quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo vệ. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình. Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật” [10]

Tùy từng thời điểm lịch sử và đặc điểm xã hội của từng nước, quan điểm về quyền tự do cá nhân trong sở hữu lại được ghi nhận rộng hay hẹp khác nhau và được phản ánh một cách rõ nét trong sở hữu chung của vợ chồng thông qua mức độ công nhận quyền tự do thỏa thuận của các chủ thể trong sở hữu chung của vợ chồng.

Sự phản ánh này được thể hiện cơ bản qua ba khía cạnh lớn là sự ghi nhận của pháp luật về sự thoả thuận của các bên trong việc thiết lập, tạo dựng quan hệ sở hữu chung của vợ chồng cũng như trong việc xác định các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng và thoả thuận của các bên trong việc thực hiện quyền sở hữu chung của vợ chồng.

Trong việc thiết lập, tạo dựng quan hệ sở hữu chung của vợ chồng, nếu như trước kia, với quan điểm và sự ghi nhận rất hạn chế của xã hội về quyền tự do cá nhân trong sở hữu cũng như quyền tự do dân sự cuả cá nhân, sự thoả thuận, thống nhất ý chí của hai bên chủ thể đã được ghi nhận rất hạn chế trong sở hữu chung của vợ chồng. Ví dụ dưới thời kỳ phong kiến, quyền tự do cá nhân ít khi được nhắc đến nên sự thỏa thuận của các bên trong việc tạo lập quan hệ hôn nhân mà trên đó sở hữu chung của vợ chồng được thiết lập cũng không hề được quan tâm, chú ý đến. Mà yếu tố tiên quyết lại chính là sự quyết định của hai bên dòng họ, gia đình. Đến ngày nay, với sự ghi nhận và bảo đảm rất cao của quyền tự do cá nhân, sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên chủ thể trong việc tạo lập quan hệ hôn nhân hay quan hệ sở hữu chung của vợ chồng được coi là một yếu tố quyết định. Chính hai bên chủ thể chứ không phải ai khác là người trước tiên tự quyết định có xác lập quan hệ hôn nhân với nhau hay không. Không ai có thể ép buộc hoặc dùng bất cứ một biện pháp nào, hình thức nào để bắt buộc hai bên xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp mà không có sự đồng ý của các chủ thể đó.

Tương tự như vậy, quan điểm về quyền tự do cá nhân cũng được phản ánh rất rõ nét qua sự công nhận thỏa thuận của hai bên vợ chồng trong việc xác định tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng cũng như việc thực hiện quyền sở hữu chung của vợ chồng. Ngày nay, pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới cũng như Việt Nam đều cho phép các chủ thể về cơ bản có thể tự do thỏa thuận, bàn bạc và ủy quyền cho nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung hay nói cách khác là các bên có thể thỏa thuận về việc thực hiện quyền sở hữu chung của vợ chồng. Đồng thời, các bên cũng có thể thỏa thuận về tài sản chung của vợ chồng. Ví dụ Điều 1469 BLDS và Thương Mại Thái Lan quy định “Khi vợ chồng không có sự thỏa thuận đặc biệt của họ về tài sản trước khi kết hôn thì quan hệ tài sản giữa họ sẽ được điều chỉnh bởi những quy định của chương này”

Như vậy, pháp luật sẽ chỉ can thiệp và chỉ quy định khi hai bên không có thỏa thuận về tài sản trước khi kết hôn, nói cách khác sự tự thoả thuận của các bên về tài sản được coi là nền tảng, cơ sở đầu tiên trong việc xác định các tài sản chung của vợ chồng.

Tóm lại, sở hữu chung của vợ chồng trước hết luôn phản ánh tư tưởng, quan điểm của xã hội về quyền tự do cá nhân trong sở hữu cũng như quyền tự do dân sự của cá nhân trong từng thời kỳ lịch sử và từng đặc điểm xã hội khác nhau.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê