1. Giới thiệu vấn đề quyền sở hữu trí tuệ 

Quyền sở hữu trí tuệ nhằm để thúc đẩy hơn nữa tiến bộ kỹ thuật và văn hóa bằng cách thưởng công cho các nhà phát minh và nghệ sĩ về những cố gắng của họ. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một chế độ nhằm đảm bảo sự bù đắp về kinh tế cho những người được hưởng quyền cũng như những quyền về tinh thần cho các nghệ sĩ. Vì những sáng tạo trí tuệ là vô hình, nên phải thiết lập loại pháp lý đặc biệt nhằm bảo vệ họ. Để khuyến khích các nhà phát minh và các nghệ sĩ cống hiến những nỗ lực, các nhà lập pháp đã dành một thứ độc quyền nhằm khai thác khả năng sáng tạo của họ. Tuy nhiên loại độc quyền này thường được giới hạn bằng thời gian, do vậy xã hội nói chung sẽ được thừa hưởng tiến bộ kỹ thuật và văn hoá. Một hạn chế quan trọng khác đối với việc sử dụng độc quyền của những người có quyền sở hữu trí tuệ này là thường giới hạn theo lãnh thô quốc gia.

Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là mối quan tâm chủ yếu của các cường quốc công nghiệp chủ yếu, và là một yếu tố quan trọng trong đàm phán các hiệp định thương mại song phương và đa phương. Lý do là tự do hoá thương mại toàn cầu ngày càng tăng và việc tăng hàm lượng trí tuệ trong sản phẩm tương đối dễ dàng sản xuất theo với giá thành rẻ.

Một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất trong thương mại quốc tế là sự gia tăng các hàng hoả sản xuất bất hợp pháp, tức là hàng hoá sản xuất không được phép và/hoặc hàng giả. Thương mại thế giới bị biến dạng vì các nhà chế tạo hàng hóa là thứ dễ bị sao chép, họ cảnh giác khi bán sản phẩm sang những nước không đưa ra đầy đủ cách bảo hộ hoặc có hiệu lực về quyền sở hữu trí tuệ. Các nhà sản xuất hàng hoá hợp pháp, có bằng sáng chế, có bản quyền hoặc có bảo hộ thiết kế thường tốn nhiều tiền cho nghiên cứu và phát triển, điêu này thường được thể hiện vào giá hàng hoá, phí nghiên cứu và phát trien rat cao. Ước tình hang năm chi phí đó Jen tởỉ 30 tỷ đô la Mỹ, chiếm 23% tổng doanh thu.: Trung bình một sản phẩm chi tốn 125 triệu đô la và phải mất 10 năm mớỉ đưa vào sản xuất được một dược phẩm mới.

Các nhà sản xuất hàng hoá lậu không phải chịu những chi phí này, do đó cắt giảm rất đáng kể giá thành nguyên gốc. Ước tính những tổn thất do tệ nạn đánh cắp này rất khác nhau. Năm 1989 trên toàn thế giới người ta dự đoán lên tới 200 tỷ đô la mỗi năm, riêng Hoa Kỳ con số tổn thất đó hàng năm từ 20 đến 60 tỷ đô la. Con số nêu trên chiếm 5% tổng giá trị thương mại thế giới. Nạn đánh cắp không chỉ tác động đến lơi nhuận của nhà sản xuất và bán hàng chính thống, mà nó còn ảnh hưởng tiêu cực đối với người tiêu dùng do phải dùng những sản phẩm giả, không đủ tiêu chuẩn.

 

2. Sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập 

Với mong muốn nhanh chóng hội nhập với thế giới và mở đường cho hoạt động đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã xây dựng một Chương trình về sở hữu trí tuệ nói chung mà mục tiêu tổng quát là làm cho hệ thống sở hữu trí tuệ của Việt Nam phù hợp hoàn toàn với TRIPS vào ngày 1/1/2000. Đây là ngày mà Hiệp định TRIPS ấn định cho các nước thành viên Tổ chức Thương mại thế giới là nước đang phát triển hoặc đang chuyển đổi nền kinh tế phải đáp ứng các tiêu chuẩn về sở hữu trí tuệ của hiệp định. Tiến sĩ Markus Cornaro, Đại sứ - Trưởng phái đoàn đại diện Uỷ ban Châu Âu tại Việt Nam cho biết: “Quyền sở hữu trí tuệ khuyến khích các hoạt động sáng tạo và đổi mới. Chúng mang lại sự tin tưởng cho chủ sở hữu khi chuyển giao kiến thức, công nghệ và bí quyết. Không thể nói hết về nhu cầu phát triển một hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hiện đại, vận hành trôi chảy và được thực thi một cách đầy đủ. Đó là tâm điểm cho việc phát triển các quan hệ thương mại và đầu tư dài hạn và lành mạnh, tạo cơ sở cho việc chuyển giao công nghệ thành công giữa các bên”.

Quyền sở hữu trí tuệ đang khẳng định vai trò không thể thiếu trong quá trình hình thành một nền kinh tế toàn diện và phát triển bền vững. Chứng chỉ về quyền sở hữu trí tuệ là vật chứng bảo đảm cho thành công của mỗi doanh nhân tiến vào thị trường thế giới. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp nước ta buộc phải tham gia môi trường cạnh tranh quốc tế với cường độ cao, với những yêu cầu chặt chẽ về thực thi các quy định về sở hữu công nghiệp. Đây cũng là một trong những vấn đề mà các đối tác quốc tế quan tâm trong tiến trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới của nước ta. 

Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ không chỉ là tình trạng phổ biến ở Việt Nam, mà các quốc gia khác trên thế giới cũng như vậy, kể cả các nước phát triển như Mỹ, Đức, Pháp… Tuy nhiên, điểm yếu của Việt Nam là không chỉ riêng người dân chưa nhận thức về sở hữu trí tuệ, mà ngay cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cũng chưa coi trọng vấn đề này.

Trong môi trường kinh tế thị trường hiện nay, đăng ký nhãn hiệu, kiểu dáng sáng chế là cách bảo hộ quyền lợi thiết thực trong kinh doanh của doanh nghiệp. Trong số 95.000 nhãn hiệu đăng ký bảo hộ tại Cục Sở hữu Công nghiệp Việt Nam, chỉ 20% là của doanh nghiệp Việt Nam. Đa số nhãn hiệu đăng ký lại là của các doanh nghiệp tư nhân, rất ít doanh nghiệp nhà nước tham gia.

Cần phải nhìn nhận một thực tế là, quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam bị xâm phạm ngày càng phức tạp. Hàng giả, hàng nhái, hàng sao chép, hàng lậu… đang được bày bán công khai ở mọi nơi. Nguy cơ này sẽ ngày càng tăng khi mà chúng ta mở cửa rộng rãi hơn. Ý thức của người tiêu dùng cũng là vấn đề đáng lo ngại. Nguyên nhân của hiện tượng này do giá bán hàng giả chỉ bằng 1/3 đến 1/10 giá của hàng thật nên người tiêu dùng biết là hàng giả nhưng vẫn dùng vì “giá rẻ”.

Bên cạnh đó là sự cố tình vi phạm của các công ty về quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hoá hay sản phẩm bán chạy cùng loại. Chúng ta có thế kể đến một loạt trường hợp bị vi phạm như của Công ty HONDA Việt Nam, công ty UNILEVER hay công ty bia Hà Nội. Công ty Honda Việt Nam đã đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho loại xe FUTURE nhưng lại bị khá nhiều công ty khác vi phạm khi lắp ráp các chi tiết tạo dáng cơ bản. Công ty UNILEVER đang được bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá OMO và và hình cho nhóm bột giặt và chất tẩy rửa. Tuy nhiên, công ty này cũng bị vi phạm quyền sở hữu trí tuệ khi bị một công ty khác đăng ký và được bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá gần giống cho sản phẩm cùng loại.

Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, sở hữu trí tụê là một công cụ đắc lực đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Thực tiễn cho thấy, nhiều công ty, nhiều doanh nghiệp trên thế giới đã rất thành công và trở nên nổi tiếng nhờ khai thác có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ. Đối với các doanh nghiệp nước ta, quyền sở hữu trí tụê cũng đóng một vai trò quan trọng, đặc biệt trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

 

3. Hiệp định TRIPS

Hiệp định TRIPS (Agreement on Trade-Related Aspect of Intellectual Property Rights - TRIPS) là các Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, là một thỏa thuận pháp lí quốc tế giữa tất cả các quốc gia là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Ngoài việc đề cập đến các nguyên tắc cơ bản của Công ước Paris, lần đầu tiên trong các văn bản pháp luật quốc tế về sở hữu trí tuệ, Hiệp định TRIPS đưa ra nguyên tắc "Đối xử tối huệ quốc" (Most Favored Nation Treatment - MFN):

"Đối với việc bảo hộ sở hữu trí tuệ, bất kì một sự ưu tiên, chiếu cố, đặc quyền hoặc sự miễn trừ nào được một Thành viên dành cho công dân của bất kì nước nào khác cũng phải được lập tức và vô điều kiện dành cho công dân của tất cả các Thành viên khác. Được miễn nghĩa vụ này bất kì sự ưu tiên, chiếu cố, đặc quyền hoặc sự miễn trừ nào mà một Thành viên dành cho nước khác".

 

4. Nội dung Hiệp định TRIPS

Hiệp định TRIPS qui định các tiêu chuẩn tối thiểu đối với việc bảo hộ các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm sáng chế, bí quyết kĩ thuật, nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp, chỉ dẫn địa lí, quyền tác giả và các quyền liên quan. 

Hiệp định TRIPS cũng qui định chế tài đối với các thành viên không đảm bảo sự bảo hộ tối thiểu quyền sở hữu trí tuệ kể cả việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ, nếu thành viên nào không đạt được sự tối thiểu đó thì sẽ không được hưởng các lợi ích của WTO.

Hiệp định TRIPS đã qui định các nguyên tắc tổng quát về thủ tục thực thi quyền sở hữu trí tuệ và bảo hộ thỏa đáng bằng các quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời yêu cầu các thành viên phải qui định trong luật quốc gia các thủ tục để xử lí kịp thời, có hiệu quả các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong dó có các thủ tục hành chính, dân sự và hình sự, bao gồm cả các biện pháp tạm thời, bồi thường thiệt hại hay tiêu hủy tang vật vi phạm và thiết lập các thủ tục kiểm soát hàng giả tại biên giới. 

 

5. Sở hữu trí tuệ có vai trò thế nào đối với Doanh nghiệp? 

Sở hữu trí tuệ hiện này đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, nhất là trong xu thế hội nhập sâu và toàn diện. Tạo dựng được một hệ thống bảo hộ Sở hữu trí tuệ hoàn thiện và vững chắc đó là một nhân tố không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế dài hạn ở bất kỳ quốc gia nào. Đồng thời, đây là một đòi hỏi bắt buộc trong quá trình hội nhập kinh tế. Để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về  tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ, mời bạn đọc cùng tham khảo bài viết mà chúng tôi chia sẻ dưới đây.

Nhãn hiệu được biết như một phần chính tạo nên thương hiệu của doanh nghiệp, sản phẩm. Mặc dù đăng kí quyền sở hữu trí tuệ đã được quy định cụ thể trong luật. Tuy nhiên tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam vẫn diễn ra ngày càng nhiều, đặc biệt là tình trạng vi phạm về hành vi làm hàng giả, hàng nhái. Đăng kí bảo hộ nhãn hiệu là cơ sở giúp các doanh nghiệp có thể bảo vệ và nâng cao thương hiệu hàng hóa mà mình tạo dựng được.

Nhiều nghiên cứu đã nêu rõ tài sản hữu hình của doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng 1/4 trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là, giá trị của tài sản vô hình hay giá trị thương hiệu doanh nghiệp chiếm đến 3/4, cá biệt chiếm đến trên 90% giá trị tài sản doanh nghiệp.

Bằng cách đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp trong nước có lợi thế đi đầu trước các đối thủ cạnh tranh trong hoạt động sản xuất và  kinh doanh trong suốt thời hạn bảo hộ. Lợi thế độc quyền một mặt giúp ngăn cản không cho các đối thủ cạnh tranh sử dụng, khai thác đối tượng đăng ký. Mặt khác cho phép doanh nghiệp thu lợi thông qua việc độc chiếm thị trường.

Để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình một cách hữu hiệu nhất, trước hết doanh nghiệp cần thực hiện quyền tự bảo vệ bằng cách áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi bị xâm phạm. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp sử dụng biện pháp như:

- In tem chống giả,

- Sử dụng bao bì được in công nghệ hiện đại.

- Sử dụng biện pháp kĩ thuật để đánh dấu, nhận biết, phân biệt sản phẩm để bảo hộ.

- Đưa những thông tin về quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ lên sản phẩm của mình.

- Thông báo sản phẩm, dịch vụ đã được bảo hộ sở hữu trí tuệ và khuyến cáo người khác không được xâm phạm.

=> Như vậy, có thể thấy rằng, để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình, doanh nghiệp nên đi đăng kí bảo hộ các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ mà mình đang sử dụng hoặc sẽ sử dụng, nhằm xây dựng và hoàn thiện chiến lược về sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp. Bên cạch đó, doanh nghiệp cũng cần tổ chức hệ thống thông tin dữ liệu, tài liệu về sở hữu trí tuệ để có được những thông tin về  đối thủ cạnh tranh. Đồng thời tránh khỏi việc xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ của người khác.

 

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).