1. Khái quát chung về luật dân sự Việt Nam

Luật Dân sự Việt Nam là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa - tiền tệ và các quan hệ nhân thân trên cơ sở bình đẳng, độc lập của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ đó và có hiệu lực pháp lý trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.

Sau ngày 02/09/1945, do hoàn cảnh chiến tranh với người Pháp nên chính phủ của chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn áp dụng các bộ luật dân sự này.

Ngày 22 tháng 5 năm 1950, chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 97/SL để "sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật" nhằm sửa đổi một số điều trong các bộ dân luật cũ này. Tại miền bắc Việt Nam, ngày 10 tháng 7 năm1959 tòa án tối cao ra chỉ thị số 772/TATC để "đình chỉ việc áp dụng luật pháp cũ của phong kiến đế quốc".

Từ thời điểm đó trở đi, tại miền bắc Việt Nam thiếu hẳn bộ luật dân sự thực thụ. Một số mảng của luật dân sự được tách ra thành các bộ luật khác như Luật hôn nhân gia đình hay các văn bản pháp quy dưới luật như thông tư, chỉ thị, nghị định, pháp lệnh.

Tuy nhiên, nhiều lĩnh vực dân sự như Thừa kế hay quyền sở hữu trí tuệ... không được điều chỉnh trực tiếp.

Bên cạnh đó, các quy định về nghĩa vụ dân sự được quy định chủ yếu là các vấn đề về nhà ở, vàng bạc, kim khí quý và đá quý v.v. và nói chung mang nặng tính chất hành chính. Có thể liệt kê một số văn bản pháp luật trong lĩnh vực dân sự như: Luật hôn nhân gia đình năm 1986, Luật Quốc tịch năm 1988, Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam năm 1988, Pháp lệnh về sở hữu công nghiệp năm 1989, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Pháp lệnh về thừa kế năm 1990, Pháp lệnh về Hợp đồng dân sự năm 1991, Pháp lệnh về nhà ở năm 1991... Tuy các pháp lệnh có nhiều nhưng đôi khi chồng chéo và mâu thuẫn với nhau nên đã gây ra nhiều khó khăn cho việc áp dụng pháp luật.

Năm 1995, quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Bộ luật Dân sự (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 1996).

Sau 10 năm thi hành, Bộ luật Dân sự đã có nhiều hạn chế, bất cập như: một số quy định không phù hợp với sự chuyển đổi nhanh của nền kinh tế thị trường, không rõ ràng hay không đầy đủ hoặc còn mang tính hành chính. Nhiều bộ luật mới ra đời có các nội dung liên quan đến Bộ luật Dân sự Việt Nam 1995 nhưng bộ luật này lại không điều chỉnh, sửa đổi dẫn đến mâu thuẫn giữa chúng cũng như chưa có sự tương thích với các Điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế. Ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự sửa đổi. Bộ Luật Dân sự Việt Nam giai đoạn này và có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2006.

Vào tháng 11 năm 2015, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự sửa đổi lần 2. Bộ Luật Dân sự Việt Nam 2015 có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2017.

Trân trọng!

 

2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra giai đoạn từ năm 1945 đến 1995

Giai đoạn này, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới được thành lập, các văn bản trước đây bị đình chỉ thực hiện theo Chỉ thị số 772 của Tòa án tối cao năm 1959. Điều này khiến cho ở miền Bắc không có một văn bản cụ thể điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự. Mỗi một lĩnh vực lại chịu sự điều chỉnh bởi những văn bản pháp luật khác nhau. Riêng lĩnh vực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chịu sự điều chỉnh của một số văn bản cụ thể như sau:

Năm 1968, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 49- CP ngày 09/4/1968 ban hành chế độ trách nhiệm vật chất của công nhân, viên chức đối với tài sản của Nhà nước. Trong đó chỉ có một số quy định về bồi tường thiệt hại do hành vi gây ra, chứ không có quy định về bồi tường thiệt hại do tài sản gây ra.

Năm 1972 Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 173-TANDTC ngày 23/3/1972 hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong Thông tư này, bồi tường thiệt hại do tài sản gây ra được quy định cụ thể trong hai trường hợp đó là:

a. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là chủ sở hữu hoặc người đã được chuyển quyền sử dụng (như người mượn). Trong đó, cơ sở trách nhiệm bồi thường là lỗi trong việc trông coi, chăn dắt;

b. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra không dựa trên cơ sở yếu tố lỗi, tức là không có lỗi vẫn phải bồi thường và thiệt hại hoàn toàn do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (bình hóa chất bị nổ khi đang vận chuyển, tai nạn do dây dẫn điện bị cháy,...).

Năm 1983 Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục ban hành Thông tư số 03-TANDTC ngày 05/4/1983 hướng dẫn giải quyết một số vấn đề về bồi tường thiệt hại trong tai nạn ô tô.

Trong Thông tư này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô tô được đặt ra trong nhiều trường hợp, có những trường họp do lỗi của người điều khiển, lỗi của người thứ ba, nhưng cũng có những trường hợp không do lỗi của bất cứ chủ thể nào (ví dụ do rủi ro thì bên ô tô bị rủi ro phải bồi thường thiệt hại). Trong thông tư này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng được loại trừ nếu không thể khắc phục được, không thể nhận thức và ngăn ngừa trước (sét, nước lũ,... ).

 

3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra giai đoạn từ năm 1995 đến nay

Năm 1995 Bộ luật Dân sự được thông qua đã quy định về vấn đề bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra thành các trường hợp cụ thể: bồi tường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (Điều 627); bồi tường thiệt hại do súc vật gây ra (Điều 629); bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra (Điều 630); bồi tường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra (Điều 631). Theo những quy định này, hầu hết các trường hợp trách nhiệm bồi thường không dựa trên điều kiện về lỗi, nhưng cũng có trường hợp trách nhiệm bồi thường dựa trên yếu tố lỗi (trách nhiệm bồi thường của chủ sở hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ; trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thứ ba làm súc vật gây thiệt hại,...). Ngoài ra, năm 1995 có Bộ luật Dân sự cũng quy định về các căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại với từng trường họp cụ thể.

Năm 2004, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP nhằm hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Dân sự của 1995 về bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng. Trong đó, phần III của Nghị quyết này hướng dẫn thi hành quy định tại Điều 627 Bộ luật Dân sự năm 1995 về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Tuy nhiên, những hướng dẫn trong Nghị quyết này đã đồng nhất về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra với hành vi sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

Năm 2005, Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự mới thay thế cho Bộ luật Dân sự trước đó. Trong đó, vấn đề bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra hầu như được kế thừa hoàn toàn các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 1995. Chỉ có hai điểm thay đổi về bồi thường thiệt hại do súc vật so với Bộ luật Dân sự này đó là:

a. Khoản 3 Điều 625 không quy định về trách nhiệm liên đới giữa chủ sở hữu với người chiếm hữu trái pháp luật như Bộ luật Dân sự năm 1995;

b. Bộ luật Dân sự năm 1995 chỉ quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu trái pháp luật súc vật,

Tuy nhiên năm 2005 có Bộ luật dân sự còn quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người sử dụng trái pháp luật.

Năm 2006, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật dân sự lúc bấy giờ về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, Nghị quyết này chỉ hướng dẫn về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Trong đó, những hướng dẫn trong Nghị quyết này đã đồng nhất giữa bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra với hành vi sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

Năm 2015, Bộ luật Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015 đã có những thay đổi nhất định so với Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.

 

4. Thay đổi về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra của Bộ luật hiện hành 

Hiện nay Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, so với các bộ luật cũ trước đây, Bộ luật hiện hành có những điểm mới và điểm thay đổi sau:

Thứ nhất, các căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại hầu như được quy định chung cho cả trường hợp tài sản cũng như hành vi gây thiệt hại chứ không quy định riêng với từng trường hợp;

Thứ hai, nhiều nguyên tắc trước đây chỉ áp dụng với bồi thường thiệt hại do hành vi gây ra, nay được áp dụng với cả trường hợp thiệt hại do tài sản gây ra (ví dụ như nguyên tắc giảm mức bồi thường tại khoản 2 Điều 585);

Thứ ba, cụm từ “người được giao chiếm hữu, sử dụng” trong khoản 3 và 4 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2005 được thay bằng cụm từ “người chiếm hữu, sử dụng” trong khoản 3 và 4 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015;

Thứ tư, bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng súc vật trong trường hợp súc vật gây thiệt hại so với Bộ luật dân sự trước đây. Ngoài ra, còn bổ sung quy định về trách nhiệm liên đới trong trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật (quy định này đã được đề cập trong Bộ luật Dân sự vào năm 1995);

Thứ năm, bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, người được giao quản lý trong trường hợp cây cối gây thiệt hại. Đồng thời có sự sửa đổi để đảm bảo xác định trách nhiệm bồi thường trong mọi trường hợp cây cối gây thiệt hại;

Thứ sáu, bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu và người thi công khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại. Đồng thời có sự sửa đổi để đảm bảo xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ phát sinhtrong mọi trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại....

Trân trọng!

 

5. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật hiện hành

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra là trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi tài sản là nguyên nhân gây ra thiệt hại như hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại; cây cố đổ gãy gây thiệt hại; nhà cửa, công trình xây dựng bị sụt, đổ gây thiệt hại; gia súc gây thiệt hại…

Ví dụ:

"Điều 603. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

3. Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

4. Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội."

=> Với điều luật này, về nguyên tắc khi súc vật gây ra thiệt hại cho người khác, chủ sở hữu ohair chịu trách nhiệm và bồi thường thiệt hại cho súc vật đó mà không cần yếu tố lỗi ở đây.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra cũng là một trong các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, về cơ bản, nó cũng mang đầy đủ các đặc điểm của Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung.

Trân trọng!