1. Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra

Trên thế giới, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra nói riêng là chế định pháp luật có lịch sử hình thành, phát triển lâu đời và là một trong những chế định pháp luật ra đời sớm nhất trong các chế định pháp luật dân sự.

Ở Việt Nam, chế định này cũng có lịch sử tồn tại và phát triển lâu dài, gắn liền với quá trình đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước.

Việt Nam trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau sẽ có những quy định pháp luật tương đối là khác nhau phù hợp với thời buổi lúc bấy giờ.

Để tìm hiểu kỹ hơn, ta sẽ cùng đi tìm hiểu về quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra trước năm 1945 trong những mục sau.

 

2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại thời phong kiến

Trong thời kì phong kiến, những quy định về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, có thể là hương ước, lệ làng, có thể là văn bản pháp luật và đều có giá trị bắt buộc.

- Về hương ước, có thể kể đến Hương ước của làng Quỳnh Đôi, xã Hoàn Hậu, tổng Phú Hậu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An được soạn ngày 20 tháng 8 năm 1636.

Trong đó tại Điều 10 quy định: “Bất kể người nào cũng không được để trâu bò đạp hư lúa má và hoa quả, không tuân thì chiếu tiền phạt trong khoán đã định mà bắt. Trâu con chưa đến 5 tháng còn theo mẹ mà đạp lúa má thì tha bắt cho. Quá 5 tháng rồi thì phạt tiền 5 quan".

 

3. Khái quát Quốc triều Hình luật thời nhà Lê

Về văn bản pháp luật, hai bộ luật đồ sộ của hai triều đại phong kiến còn được lưu giữ đến nay là Quốc triều Hình luật thời nhà Lê và Hoàng Việt luật lệ thời nhà Nguyễn.

Theo đó:

- Luật Hồng Đức là tên gọi thông dụng của bộ Quốc triều hình luật hay Lê triều hình luật, là bộ luật chính thức của nhà nước Đại Việt thời Lê sơ hiện còn được lưu giữ đầy đủ. Do các bộ luật của các triều đại phong kiến Việt Nam đều có tên gọi là Quốc triều hình luật nên ở đây dùng tên gọi Luật Hồng Đức làm tên gọi cho bài mặc dù nó không phải là tên gọi chính thức.

Nó có thể coi là bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau như: Lĩnh vực luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng, luật hôn nhân-gia đình, luật hành chính,...

- Hoàng Việt luật lệ được xây dựng trên cơ sở khảo xét, tham chiếu bộ luật Hồng Đức (tức Quốc triều Hình luật, là bộ luật của nhà Lê), nhưng chủ yếu là mượn bộ luật của nhà Thanh, dù đã được chỉnh sửa và cập nhật cho phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam lúc bấy giờ. Trong 398 điều thì 397 là chép lại Đại Thanh luật lệ. Chỉ có một điều là rút từ Quốc triều Hình luật.

Bảng (hay đồ): quy định về phương hướng xử lý đối với những tài sản có được một cách bất hợp pháp. Thể lệ nộp phạt chuộc tội, chí tiết về ngũ hình, các dụng cụ dùng trong tù, và trang phục tang chế. Danh lệ quy định về những nguyên tắc tổng quát về tội phạm và hình thức trừng phạt. Phần dẫn đều luật dùng để hướng dẫn việc so sánh các hình phạt và vận dụng luật trong trường hợp vụ việc mà luật không quy định tới. Hộ luật là các luật về hộ tịch, tài sản, hôn nhân, thuế, nợ nần, tiền chợ búa.

Đặc biệt là điều luật về việc tuyển phi cho vua, Hoàng Việt luật lệ thừa hưởng các điều luật từ thời xưa mà không có bất kì sự thay đổi nào. Đó là độ tuổi tuyển phi từ 13 đến 16 tuổi (trừ các cuộc hôn nhân chính trị, tuy nhiên vẫn chưa ghi nhận bất kì trường hợp nào vi phạm điều luật trên vì hôn nhân chính trị).

Trong các văn bản này không có sự phân biệt rõ trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự. Điều này là do hai văn bản này được ban hành nhằm phục vụ cho quyền lợi của giai cấp thống trị, để duy trì và bảo vệ sự tồn tại của nền quân chủ, không chú trọng vào việc bảo vệ quyền và lợi ích của người dân. Đồng thời, do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, nên trong xã hội mọi người đều hành động như hiền nhân quân tử, giữa họ không thể có những tranh chấp về quyền lợi. Tuy nhiên, về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, Quốc triều Hình luật của nhà Lê quy định cụ thể hơn.

Về các trường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, Quốc triều hình luật không có quy định mang tính nguyên tắc chung, mà chỉ quy định về các trường hợp cụ thể như: (i) về bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng gây ra, Điều 568 (Điều 16 chương Tạp luật, quyển V) quy định:

“Khi có việc xây dựng hay phá hủy gì, mà phòng bị không cẩn thận, để đến nỗi xảy ra chết người, thì xử biếm một tư, và chịu tiền mai tảng 5 quan; còn thợ thuyền và người chủ ty, thì hình quan sẽ xem xét lỗi vì ai xảy ra mà định đội; (ii) về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra, Điều 581 (Điều 29 chương Tạp luật, quyển V) quy định: Người thả trâu ngựa cho dày xéo ăn lúa, dâu của người ta, thì xử phạt 80 trượng, và đền sự thiệt hại. Nếu cố ý thả cho dày xẻo, phả hại của người ta, thì xử biếm một từ và đền gấp đôi sự thiệt hại. Nếu vì trâu ngựa chạy lồng lên, không kìm hãm được, thì được miễn tội trượng".

Ngoài ra, Điều 582 (Điều 30 chương Tạp luật, quyển V) và Điều 583 (Điều 31 chương Tạp luật, quyển V) cũng quy định về súc vật gây thiệt hại nhưng không đặt ra vấn đề bồi thường dân sự, mà chỉ quy định về trách nhiệm hình sự.

Với những quy định này cũng có thể thấy trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra được áp dụng nếu có lỗi của chủ sở hữu, người quản lý tài sản. Hơn nữa, việc xác định mức bồi thường còn căn cứ và hình thức lỗi cố ý hoặc vô ý (lỗi cố ý bồi thường gấp đôi thiệt hại). Cũng theo những quy định này cho thấy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ được loại trừ nếu không có lỗi của người có trách nhiệm quản lý tài sản.

Khi thực dân Pháp bắt đầu tiến hành xâm lược Việt Nam, lãnh thổ Việt Nam bị chia cắt thành 3 kỳ với 3 chế độ khác nhau. Theo đó, vấn đề xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng được điều chỉnh bởi những văn bản quy phạm khác nhau.

 

4. Khái quát Bộ luật Nam Kỳ giản yếu

Bộ luật Nam Kỳ giản yếu quy định về vấn đề bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra được quy định cụ thể trong chương Thứ chín. Trong phần điều khoản chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra được đề cập như quy định mang tính nguyên tắc như sau:

“Môi người có trách - nhậm không những vì việc làm của mình mà luôn cả việc làm của người mà mình phải chịu trách - cử hay những vật mình giữ - gìn.

Chủ một con thú hay người dùng nó phải chịu trách nhậm về sự thiệt hại do nó gây ra trong thời gian dùng nó dù lúc đó nó được giữ gìn hay đi lạc hoặc súc chuồng cũng vậy.

Chủ một tòa kiến trúc phải bị trách nhậm vì sự sụp đổ của nó khi nào sự sụp đổ ấy xảy ra bởi sự không coi gìn giữ hay bởi có tì tích trong sự xây dựng”.

Trong phần trách nhiệm cụ thể, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra cũng được đề cập ở mức độ chi tiết hơn. Cụ thể:

  • Đối với trách nhiệm do thú - vật gây ra, một lần nữa khẳng định chủ thể phải bồi thường không chỉ là chủ sở hữu mà còn bao gồm cả người dùng con thú. Đặc biệt, Bộ luật này liệt kê cụ thể người dùng con thú như: người tá điền, người mượn, người thuê (mướn),...
  • Đối với trách nhiệm do xe hơi gây ra, Bộ luật này dựa trên thuyết lý “sự nguy hiểm có thể đến”, theo đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có thiệt hại xảy ra bất kể thiệt hại do hành vi sử dụng hay do tự bản thân chiếc xe đó gây ra. Ngoài ra, Bộ luật này cũng xác định trách nhiệm bồi thường khi xe hơi gây thiệt hại trong từng trường hợp cụ thể như thiệt hại gây ra cho người đi đường, thiệt hại do xe bị ăn trộm, thiệt hại xảy ra đối với hành khách đi xe.
  • Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa gây ra, Bộ luật này quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu và trách nhiệm của người kiến trúc hay thầu khoán. Trong đó, người thầu khoán phải chịu trách nhiệm trong thời gian 10 năm bất kể nhà cửa sụp đổ bởi tì tích trong sự kiến trúc hay vì tì tích của đất.

 

5. Khái quát Bộ dân luật Bắc Kỳ

Bộ dân luật Bắc Kỳ được ban hành vào năm 1931, được áp dụng tại miền Bắc Việt Nam. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra được quy định tại các Điều 714, 715 và 716 một cách cụ thể, bao gồm cả những quy định chung và những quy định áp dụng với trường hợp cụ thể.

Trong đó:

Tại Điều 714 đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra một cách chung nhất:

“Người ta phải chịu trách nhiệm không những về sự tổn hại tự mình làm ra mà cả về sự tổn hại do những người mình phải bảo lĩnh hay do những vật mình phải coi giữ nữa”.

Theo Điều 715 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do động vật gây ra:

“Người chủ một con vật hay là người dùng nó, trong khi đương nuôi nó mà nó làm tổn hại sự gì, phải chịu trách nhiệm, dù khi ấy mình có giữ nó hay nó lạc trốn đi mặc lòng”.

Đối với Điều 716 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà gây thiệt hại như sau:

“Người chủ nhà mà nhà mình đổ nát làm thiệt hại cho người ta vì không chịu tu bổ hay vì làm không chắc chắn phải chịu trách nhiệm về sự tổn hại đó”.

Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật (Bộ dân luật Trung Kỳ) được ban hành vào năm 1936, được áp dụng tại miền Trung Việt Nam. Cũng giống như bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931, trong bộ Dân luật Trung kỳ 1936, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra cũng được quy định thành 3 Điều cụ thể là Điều 763 (quy định mang tính nguyên tắc chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra), Điều 766 (quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do động vật gây ra) và Điều 767 (quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà gây ra). Trong đó, nội dung của 3 Điều này hoàn toàn trùng khớp với nội dung 3 Điều luật có liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra trong Bộ dân luật Bắc kỳ 1931.

Trân trọng!