- 1. Khái quát về hoạt động điều tra theo pháp luật CHLB Đức
- 2. Hoạt động thu thập chứng cứ của Cơ quan Công tố
- 3. Vai trò của cảnh sát trong hoạt động điều tra
- 4. Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động điều tra
- 5. Trách nhiệm của bị cáo trong quá trình điều tra
- 6. Quy định về thẩm tra, thẩm vấn bị can, bị cáo
Căn cứ pháp lý: Bộ Luật Tố tụng Hình sự CHLB Đức
1. Khái quát về hoạt động điều tra theo pháp luật CHLB Đức
Ở Đức, hầu hết các cuộc điều tra, (khoảng 91 đến 98%) được bắt đầu từ tin báo của quần chúng cho cơ quan cảnh sát. Với những vụ án như giết người, tội phạm cổ cồn trắng, tội phạm về môi trường và các tội phạm ma tuý thường do một công chức hay một cơ quan Nhà nước báo cáo trực tiếp gửi cơ quan công tố. Tin báo, báo cáo có thể được trình lên bằng văn bản hoặc bằng lời với quan công tố, đồn cảnh sát, các cảnh sát viên đang tuần tra trên đường phố hoặc Toà án hình sự địa phương (Điều 158). Công tố viên và cảnh sát trong khi làm nhiệm vụ có nghiã vụ mặc nhiên hành động càng sớm càng tốt ngay khi nhận được tin báo tội phạm (các điều 160-163).
Nguyên tắc về tính hợp pháp của Bộ luật tố tụng hình sự yêu cầu cơ quan công tố phải điều tra khiếu nại ngay khi nhận được tin báo về tội phạm bị tình nghi đã đủ căn cứ “thoạt nhìn đã rõ - Prima facie case” (Điều 152 (II)). Tuy nhiên, trên thực tế cảnh sát giải quyết các tội phạm một cách có chọn lọc, đặc biệt khi tin báo liên quan đến tội phạm ít nghiêm trọng.
2. Hoạt động thu thập chứng cứ của Cơ quan Công tố
Cơ quan công tố có nhiệm vụ thu thập cả chứng cứ buộc tội lẫn chứng cứ gỡ tội và là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hành động một cách công bằng, không thiên vị trong lĩnh vực tư pháp hình sự (điều 161(II)). Từ năm 1975, Công tố viên có vị trí quan trọng trong giai đoạn tiền xét xử và có toàn quyền tiến hành điều tra trên tất cả các phương diện. Vì cơ quan công tố không đủ người nên cảnh sát thường được yêu cầu hỗ trợ công tố viên theo lệnh của cơ quan công tố, và theo quan điểm của người Đức, họ thường ví cơ quan công tố là một bộ phận đầu não mà không có thay chân trong giai đoạn điều tra.
Mặc dù các văn bản pháp luật quy định cơ quan công tố chỉ đạo cuộc điều tra và có quyền hướng dẫn cảnh sát (các điều từ 161 đến 163 (II)) nhưng trên thực tế, cơ quan cảnh sát luôn điều tra một cách độc lập. Theo quy định của pháp luật họ có nghĩa vụ phải tiến hành điều tra ngay khi nhận được tin báo về tội phạm mà không cần chờ lệnh của cơ quan công tố. Chỉ trong những trường hợp rất ngoại lệ thì Công tố viên mới tự mình điều tra. Tuy nhiên, thông thường cảnh sát cũng phải liên hệ với Công tố viên, đặc biệt khi giải quyết các vụ án nghiêm trọng hay các tội phạm kinh tế. Có một bộ phận của cơ quan công tố chuyên trách về tội phạm lừa đảo, gian lận nghiêm trọng, ở bộ phận này Công tố viên có ảnh hưởng lớn đến hướng điều tra và đưa ra hướng dẫn trực tiếp đến hoạt động điều tra, đưa ra tư vấn về chứng cứ chuyên ngành, quyết định việc trưng cầu chuyên gia giám định…Theo nguyên tắc, đặc biệt ở các thành phố lớn, cơ quan công tố chỉ được thông báo về vụ án sau khi cảnh sát đã thảo xong kết luận điều tra và tại giai đoạn này thì đã quá muộn để Công tố viên có thể can thiệp vào quá trình giải quyết vụ án. Vai trò chính của Công tố viên, do đó, chỉ đơn thuần là truy tố chứ không phải điều tra tội phạm.
3. Vai trò của cảnh sát trong hoạt động điều tra
Ở Đức, cảnh sát được chia làm 2 loại là cảnh sát hình sự và cảnh sát bảo vệ. Theo qui định, cảnh sát bảo vệ thường điều tra các tội phạm ít nghiêm trọng, trong khi cảnh sát hình sự điều tra các tội phạm nghiêm trọng và những tội phạm đòi hỏi tính chuyên nghiệp trong một số lĩnh vực nhất định như các tội lừa đảo tài chính hay tội phạm về môi trường. Việc thành lập và tổ chức lực lượng cảnh sát là vấn đề riêng của từng bang và về nguyên tắc không có lực lượng cảnh sát tập trung liên bang. Các lực lượng cảnh sát hoạt động dưới quyền của Bộ trưởng Bộ Nội vụ từng bang.
Cảnh sát đóng vai trò chính trong quá trình điều tra. Vì Viện công tố không có lực lượng để thực hiện nhiệm vụ điều tra nên phải yêu cầu cảnh sát hỗ trợ. Mặc dù về nguyên tắc, Công tố viên là người chỉ đạo tiến trình tố tụng giai đoạn tiền xét xử và đưa ra các mệnh lệnh cho cảnh sát theo Điều 152 của Luật Toà án nhưng trên thực tế cảnh sát thường chủ động tiến hành các hoạt động điều tra. Chỉ trong những trường hợp phức tạp và nghiêm trọng thì cảnh sát điều tra mới chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Công tố viên. Khi cảnh sát hoàn thành việc điều tra, hồ sơ sẽ được chuyển cho bên công tố để quyết định có truy tố hay không. Tuy nhiên, trách nhiệm pháp lý đối với tất cả các hoạt động điều tra vẫn thuộc về cơ quan công tố.
Tất cả các nhân viên cảnh sát có nghĩa vụ tiến hành điều tra nếu nghi ngờ có tội phạm xảy ra (Điều 163 (I)). Do đó, họ có cả quyền và nghĩa vụ “khởi động”. Họ hành động thay mặt Công tố viên và luôn được coi là “cánh tay nối dài của cơ quan công tố”. Mặc dù vậy, họ không có đầy đủ các thẩm quyền cưỡng chế tố tụng như Công tố viên. Nói chung, các nhân viên cảnh sát chỉ có một số quyền như bắt kẻ bị tình nghi, chụp ảnh, lấy dấu vân tay và nhận dạng. Tuy nhiên, cảnh sát được coi là cơ quan “bổ trợ cho cơ quan công tố” có thể thực hiện 6 thẩm quyền cưỡng chế trong các trường hợp khẩn cấp như: Khám xét, thu giữ, lấy mẫu máu hoặc khám người đối với bị can hay nhân chứng, kiểm soát trên đường và điều tra qua máy tính.
4. Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động điều tra
Tuy nhiên, trong hoạt động điều tra, pháp luật tố tụng hình sự của Đức quy định rất chặt chẽ những hoạt động xâm phạm đến các quyền tự do của công dân. Những quyền như quyền bắt tạm giam, khám xét, bắt giữ, nghe chặn, ghi âm liên lạc các cuộc viên thông và khám người luôn bị kiểm soát nghiêm ngặt và phải tuân theo luật. Ngoài ra, theo phán quyết của Toà án tối cao liên bang, những hoạt động theo quyền hạn như vậy chỉ có hiệu lực nếu được áp dụng tương xứng với mục đích của từng hoạt động trên. Mọi bằng chứng liên quan thu được do vi phạm nguyên tắc này sẽ không được Tòa án chấp nhận.
Do đó, giai đoạn điều tra, tiền xét xử đòi hỏi phải có sự can thiệp của Toà án vào tất cả các hoạt động tố tụng xâm phạm đến quyền tự do cá nhân. Việc tạm giam trước khi xét xử phải do thẩm phán (không phải người tiến hành xét xử sau này) quyết định. Việc thực hiện những thẩm quyền khác như bắt, khám xét, thu giữ, khám người bị buộc tội hay một người khác hoặc nghe lén điện thoại trong những trường hợp rất đặc biệt do chính cơ quan công tố ra lệnh, quyết định. Quy định này nhằm đảm bảo chứng cứ được thu thập kịp thời và việc Tòa án liên quan đến quy trình này có thể làm chứng cứ bị mất hoặc bị làm sai lệch… Tuy nhiên, việc áp dụng những biện pháp như vậy ngay sau đó phải được Toà án kiểm soát với (một thẩm phán) công nhận, quyết định (chẳng hạn, điều 100b quy định về nghe lén điện thoại). Hơn nữa, đối tượng bị áp dụng các biện pháp trên có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định, phán quyết về tính hợp pháp của việc áp dụng các biện pháp đó (điều 98(II)). Trong trường hợp khẩn cấp, khi không có Toà án nào có thể ra lệnh ngay được thì nhân viên cảnh sát làm nhiệm vụ hỗ trợ cũng có những quyền hạn như công tố viên.
Khi xem xét áp dụng một trong những biện pháp như vậy, cơ quan công tố phải làm đơn đề nghị thẩm phán Toà án địa phương ra lệnh. (điều 162). Lệnh phải được ban hành ngay khi có đủ chứng cứ chứng minh sự cần thiết tiến hành các biện pháp cưỡng chế, ngăn chặn đó (Điều 162). ở đây, thẩm phán không hành động theo quyền hạn tư pháp của Toà án mà thực hiện thẩm quyền mang tính hành chính của mình và không có quyền tự ý tiến hành điều tra, tìm hiểu. Trường hợp tài liệu vụ án do Công tố viên cung cấp không đủ sức thuyết phục để ra lệnh áp dụng các biện pháp đã nêu thì thẩm phán phải yêu cầu Công tố viên cung cấp thêm thông tin. Nếu Công tố viên không thể cung cấp thêm thông tin, thẩm phán phải từ chối việc áp dụng các biện pháp đó.
Nhân viên cảnh sát cũng có quyền bắt cá nhân, chụp ảnh, lấy dấu vân tay hoặc áp dụng một vài biện pháp nhận dạng người bị tình nghi.
5. Trách nhiệm của bị cáo trong quá trình điều tra
Không chỉ trong gia đoạn điều tra mà trong tất cả các giai đoạn tố tụng, việc thẩm vấn bị cáo tuân theo cùng nguyên tắc. Trong lần thẩm vấn đầu tiên trước Thẩm phán, Công tố viên hay nhân viên cảnh sát, bị cáo phải:
+ Được thông báo về tội trạng mình bị cáo buộc và điều khoản có liên quan đến tội trạng đó trong Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, cảnh sát không nhất thiết phải nêu chính xác những điều khoản này.
+ Bị thẩm vấn về tình trạng cá nhân, nhưng hạn chế trong những thông tin cần thiết để nhận dạng, danh tính.
+ Được thông báo về quyền giữ im lặng, không nói bất kỳ vấn đề gì liên quan đến vụ việc.
+ Được thông báo về quyền chọn Luật sư bào chữa và quyền đề nghị thu thập chứng cứ gỡ tội (điều 136(II)).
+ Được có cơ hội bác bỏ mọi nghi ngờ chống lại mình và chỉ ra các tình huống có lợi cho sự biện hộ của mình.
Nếu bị cáo không được thông báo về những nội dung trên, chứng cứ buộc tội anh ta có thể bị loại bỏ, trừ phi bị cáo biết rõ quyền của mình hoặc chấp thuận các chứng cứ đó trước Toà.
6. Quy định về thẩm tra, thẩm vấn bị can, bị cáo
Mọi cuộc thẩm tra, hỏi cung bị cáo hay nhân chứng phải được lập biên bản để làm chứng cứ trước Tòa. Mặc dù phạm vi thẩm vấn của cảnh sát rất rộng và có ảnh hưởng lớn tới các quyết định sau này của Công tố viên và Toà án nhưng không có quy định riêng nào liên quan đến cách thức ghi biên bản thẩm vấn của cảnh sát mặc dù nhân viên cảnh sát có nghĩa vụ ghi âm tất cả các cuộc thẩm vấn. Những cuộc thẩm vấn như vậy cũng tuân theo những nguyên tắc như áp dụng với Toà án. Biên bản của cảnh sát ghi lại các tình tiết mà nhân viên cảnh sát làm nhiệm vụ thẩm vấn thu thập được. Những nhân viên này cũng có quyền đánh giá tư cách cá nhân và thái độ của bị cáo, nhân chứng. Mọi ấn tượng và định kiến của cảnh sát đều có thể ảnh hưởng đến người đọc hồ sơ, nhất là Công tố viên và Thẩm phán.
Trong quá trình thẩm vấn người bị tình nghi, pháp luật nghiêm cấm Công tố viên, Thẩm phán và nhân viên cảnh sát có các hành động tàn tệ với những người này. Bị cáo có quyền giữ im lặng từ khi bắt đầu cuộc điều tra và phải được thông báo về quyền này trước phiên thẩm vấn, hỏi cung đầu tiên. Anh ta có quyền tham vấn Luật sư bào chữa tại lần thẩm vấn đầu tiên của cảnh sát, tuy nhiên, khi cảnh sát tiến hành thẩm vấn, Luật sư không được phép có mặt, ngay cả khi bị cáo bị thẩm vấn, trừ phi bị cáo từ chối trả lời bất cứ câu hỏi nào nếu không có mặt Luật sư. Sự hiện diện của Luật sư do cảnh sát quyết định mặc dù kinh nghiệm thực tế cho thấy Luật sư bào chữa có thể giúp hạn chế sai sót điều tra bằng cách đặt thêm các câu hỏi phụ và khuyến khích thân chủ của mình hợp tác với cảnh sát và thực tế này không giống với ở Việt Nam là người bào chữa có quyền có mặt khi hỏi cung bị can, nhưng lại giống nhau ở một điểm là nhân viên điều tra có quyền cho phép người bào chữa có mặt.
Bài viết tham khảo:
1. Các Biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự Cộng Hòa Liên Bang Đức Đức; Hoàng Thị Quỳnh Chi; Viện Khoa học kiểm sát, VKSNDTC;
2. Giới thiệu quy định chung của Bộ Luật Tố tụng Hình sự CHLB Đức; THS. Nguyễn Xuân Hà;
3. Khái quát về tiến trình điều tra vụ án hình sự và các cơ quan tham gia tiến hành tố tụng trong giai đoạn này theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự Cộng hòa Liên Bang Đức; Nông Xuân Trường; Viện khoa học kiểm sát - VKSNDTC.