Căn cứ pháp lý:
Văn bản hợp nhất 46/VBHN-VPQH năm 2018 hợp nhất Luật Bảo hiểm y tế do Văn phòng Quốc hội ban hành;
Nghị định 146/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật bảo hiểm y tế;
Thông tư 40/2015/TT-BYT quy định đăng ký khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu và chuyển tuyến khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành;
Chuyên viên hỗ trợ giải đáp:
1. Bảo hiểm y tế là gì?
Bảo hiểm y tế là một trong những chính sách hỗ trợ của nhà nước trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Bảo hiểm y tế là chế độ mà theo đó, người mua bảo hiểm (người tham gia bảo hiểm y tế) sẽ được cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả thay một phần hoặc toàn bộ chi phí khám, chữa bệnh, thuốc men hoặc các dụng cụ, trang thiết bị y tế nằm trong danh mục chi trả của Bảo hiểm y tế.
2. Quyền lợi khi tham gia bảo hiểm y tế?
Như chúng tôi đã nêu ở trên, người tham gia bảo hiểm y tế, tùy đối tượng sẽ được quỹ bảo hiểm y tế hỗ trợ thanh toán một phần hoặc toàn bộ các chi phí khám, chữa bênh, thuốc men, dụng cụ, vật tư y tế. Cụ thể, Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung năm 2014 có quy định về mức hưởng của các đối tượng như sau:
a. Khám, chữa bệnh đúng tuyến
Theo quy định tại Điều 11 Thông tư số 40/2015/TT-BYT, khám, chữa bệnh đúng tuyến được hiểu là:
- Người có thẻ bảo hiểm y tế, đăng ký khám, chữa bệnh ban đầu tại cơ sở khám, chữa bệnh tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện được quyền khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại trạm y tế tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa, hoặc bệnh viện tuyến huyện trong cùng địa bàn tỉnh; hoặc
- Người có thẻ bảo hiểm y tế được chuyển viện đúng tuyến;
- Trường hợp người bệnh cấp cứu.
Đối với trường hợp khám, chữa bệnh đúng tuyến, người có thẻ bảo hiểm được cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả trong phạm vi hưởng bảo hiểm y tế như sau:
- Được chi trả 100% chi phí khi thuộc các đối tượng:
+ Các đối tượng thuộc nhóm do ngân sách nhà nước đóng theo quy định tại Điếu 12 Luật Bảo hiểm y tế;
+ Đối tương có thời gian tham gia BHYT từ đủ 5 năm liên tục và có số tiền cùng chi trả trong năm lớn hơn 06 tháng lương cơ sở.
- Được chi trả 95% chi phí nếu thuộc các đối tượng:
+ Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng;
+ Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ đối tượng được BHYT chi trả 100%;
+ Người thuộc hộ gia đình cận nghèo.
- Các đối tượng khác được chi trả 80%.
b. Trường hợp khám, chữa bệnh trái tuyến:
Trường hợp người có thẻ bảo hiểm y tế, tự đi khám tại cơ sở khám, chữa bệnh khác tuyến với nơi đăng ký khám, chữa bệnh ban đầu thì mức cơ quan bảo hiểm sẽ chi trả như sau:
- Đối với tuyến trung ương: Chỉ chi trả đối với trường hợp điều trị nội trú bằng 40% so với mức chi trả đúng tuyến.
- Đối với tuyến tỉnh: Chỉ chi trả đối với trường hợp điều trị nội trú bằng 60% so với mức chi trả đúng tuyến. Từ ngày 01/01/2021 là 100% chi phí điều trị nội trú trong phạm vi cả nước;
- Đối với tuyến huyện: Chi trả 70% chi phí khám bệnh, chữa bệnh so với mức hưởng đúng tuyến. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 là 100% chi phí khám, chữa bệnh.
Theo đó, tùy vào đối tượng tham gia bảo hiểm y tế và hình thức điều trị nội trú hay ngoại trú mà người tham gia bảo hiểm y tế sẽ có mức hưởng khác nhau:
- Với những người đi khám chữa bệnh không đúng nơi đăng ký khám, chữa bệnh ban đầu nhưng khám, chữa bệnh tại các trạm y tế tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện thì vẫn giữ nguyên mức hưởng như đúng tuyến.
- Người dân tộc thiểu số và người thuộc hộ gia đình nghèo tham gia bảo hiểm y tế đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người tham gia bảo hiểm y tế đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo khi tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với bệnh viện tuyến huyện, điều trị nội trú đối với bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến trung ương với mức hưởng như đúng tuyến.
- Trừ đối tượng trên, người có thẻ bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh không đúng tuyến nếu điều trị nội trú tại bệnh viện tuyến tỉnh thì được chi trả bằng 60% mức hưởng đúng tuyến, điều trị nội trú tại bệnh viện tuyến trung ương thì được chi trả bằng 40% mức hưởng đúng tuyến.
Trường hợp khám, chữa bệnh ngoại trú ở tuyến tỉnh, tuyến trung ương mà không đúng tuyến sẽ không được chi trả bảo hiểm y tế.
c. Phạm vi được chi trả Bảo hiểm y tế
Theo quy định tại Điều 21 Luật Bảo hiểm y tế, người tham gia bảo hiểm y tế sẽ được hỗ trợ chi trả chi phí bảo hiểm y tế trong các trường hợp sau:
"Điều 21. Phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế
1. Người tham gia bảo hiểm y tế được quỹ bảo hiểm y tế chi trả các chi phí sau đây:
a) Khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, khám thai định kỳ, sinh con;
b) Vận chuyển người bệnh từ tuyến huyện lên tuyến trên đối với đối tượng quy định tại các điểm a, d, e, g, h và i khoản 3 Điều 12 của Luật này trong trường hợp cấp cứu hoặc khi đang điều trị nội trú phải chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật.
2. Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan ban hành danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc, hóa chất, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật y tế thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế."
Về danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc, hóa chất, vật tư ý tế, dịch vụ kỹ thuật y tế thuộc phạm vi được hỗ trợ chi trả của người tham gia bảo hiểm y tế, bạn có thể tham khảo tại:
Trong đó:
- Danh mục thuốc hóa dược và sinh phẩm thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT được quy định tại Phụ lục 01;
- Danh mục thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT được quy định tại Phụ lục 02.
1. Từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành cho đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2018 mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 73 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 79 của Luật này tương ứng với 15 năm đóng bảo hiểm xã hội; sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.
2. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 73 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 79 của Luật này và tương ứng với số năm đóng bảo hiểm xã hội như sau:
a) Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm;
b) Lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm.
Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản này được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%.
3. Việc điều chỉnh lương hưu được thực hiện theo quy định tại Điều 57 của Luật này.
Mức đóng và phương thức đóng của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và h khoản 1 Điều 2 của Luật này, hằng tháng đóng bằng 8% mức tiền lương tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất.
Người lao động quy định điểm i khoản 1 Điều 2 của Luật này, hằng tháng đóng bằng 8% mức lương cơ sở vào quỹ hưu trí và tử tuất.
2. Người lao động quy định tại điểm g khoản 1 Điều 2 của Luật này, mức đóng và phương thức đóng được quy định như sau:
a) Mức đóng hằng tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất bằng 22% mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài, đối với người lao động đã có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc; bằng 22% của 02 lần mức lương cơ sở đối với người lao động chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng đã hưởng bảo hiểm xã hội một lần;
b) Phương thức đóng được thực hiện 3 tháng, 06 tháng, 12 tháng một lần hoặc đóng trước một lần theo thời hạn ghi trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Người lao động đóng trực tiếp cho cơ quan bảo hiểm xã hội nơi cư trú của người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài hoặc đóng qua doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Trường hợp đóng qua doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thì doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp thu, nộp bảo hiểm xã hội cho người lao động và đăng ký phương thức đóng cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
Trường hợp người lao động được gia hạn hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động mới ngay tại nước tiếp nhận lao động thì thực hiện đóng bảo hiểm xã hội theo phương thức quy định tại Điều này hoặc truy nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội sau khi về nước.
3. Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng bảo hiểm xã hội tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
4. Người lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 2 của Luật này mà giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì chỉ đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều này đối với hợp đồng lao động giao kết đầu tiên.
5. Người lao động hưởng tiền lương theo sản phẩm, theo khoán tại các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì mức đóng bảo hiểm xã hội hằng tháng theo quy định tại khoản 1 Điều này; phương thức đóng được thực hiện hằng tháng, 03 tháng hoặc 06 tháng một lần.
6. Việc xác định thời gian đóng bảo hiểm xã hội để tính hưởng lương hưu và trợ cấp tuất hằng tháng thì một năm phải tính đủ 12 tháng; trường hợp người lao động đủ điều kiện về tuổi hưởng lương hưu mà thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu tối đa 06 tháng thì người lao động được đóng tiếp một lần cho số tháng còn thiếu với mức đóng hằng tháng bằng tổng mức đóng của người lao động và người sử dụng lao động theo mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ việc vào quỹ hưu trí và tử tuất.
7. Việc tính hưởng chế độ hưu trí và tử tuất trong trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ được tính như sau:
a) Từ 01 tháng đến 06 tháng được tính là nửa năm;
b) Từ 07 tháng đến 11 tháng được tính là một năm.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật bảo hiểm - Công ty Luật Minh Khuê